THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 211-TTg

Hà Nộingày 07 tháng 4 năm 1995

 

QUYẾT ĐỊNH

PHÊ DUYỆT CHƯƠNGTRÌNH QUỐC GIA VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Xét tờ trình số 405 /CNTTngày 29 tháng 2 năm 1995 về việc xin phê duyệt kế hoạch tổng thể Chương trìnhQuốc gia về công nghệ thông tin;
Căn cứ ý kiến đề nghị của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước tại công văn số3690/UB-KHGDMT ngày 8 tháng 12 năm 1994 và của Bộ Tài chính số 2843/TC-HCVXngày 31 tháng 10 năm 1994
,

QUYẾTĐỊNH

Điều 1.Phê duyệt Chương trình Quốc gia về công nghệ thông tin - Kế hoạch tổng thể đếnnăm 2000.

Điều 2.Bộ trưởng các Bộ: Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Tài chính, Chủ nhiệm Uỷban Kế hoạch Nhà nước, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Thủ trưởng các ngành cóliên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

 

 

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

 

CHƯƠNG TRÌNH

QUỐC GIA VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN KẾ HOẠCH TỔNG THỂ ĐẾN NĂM2000(Ban hành kèm theo Quyết định số 211/TTg ngày 7/4/1995)

Nghị quyết của Chính phủ số49/CP ngày 4/8/1993 về phát triển công nghệ thông tin ở nước ta trong những năm90 đã nêu khái quát tình hình công nghệ thông tin của nước ta, khẳng định cácquan điểm, mục tiêu và nội dung phát triển công nghệ thông tin ở nước ta đếnnăm 2000 và đề ra các biện pháp lớn để thực hiện chủ trương quan trọng đó. Bảnkế hoạch tổng thể này trình bày một cách hệ thống các nội dung công việc cần đượctriển khai từ nay đến năm 2000 để thực hiện Nghị quyết 49/CP nói trên.

Mục tiêu chung của việc xây dựngvà phát triển công nghệ thông tin ở nước ta đến năm 2000, như đã được xác địnhtrong Nghị quyết 49/CP, là:

Xây dựng những nền móng bước đầuvững chắc cho một kết cấu hạ tầng về thông tin trong xã hội có khả năng đáp ứngcác nhu cầu cơ bản về thông tin trong quản lý nhà nước và trong các hoạt độngkinh tế - xã hội; đồng thời tích cực xây dựng ngành công nghiệp công nghệ thôngtin thành một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, góp phần chuẩnbị cho nước ta có vị trí xứng đáng trong khu vực khi bước vào thế kỷ 21.

Mục tiêu chung đó được thể hiệnbằng các mục tiêu cụ thể sau đây:

a) Xây dựng hệ thống các máytính và các phương tiện truyền thông được liên kết với nhau trong các mạng vớinhững công cụ phần mềm đủ mạnh và các hệ thông tin và cơ sở dữ liệu, có khảnăng phục vụ các hoạt động quản lý Nhà nước và các hoạt động huyết mạch của nềnkinh tế. Một số hệ thông tin trong nước được ghép nối với các mạng thông tin quốctế;

b) Phát triển rộng rãi việc ứngdụng công nghệ thông tin góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất,kinh doanh, hiện đại hoá dần các ngành sản xuất, dịch vụ quan trọng và an ninh,quốc phòng. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động điềutra cơ bản, thăm dò khảo sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường, nghiên cứukhoa học và các hoạt động khác;

c) Phổ cập " văn hoá thôngtin" trong xã hội nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc chuẩn bị hướng tớimột " xã hội thông tin".

d) Xây dựng cơ sở cho một ngànhcông nghiệp công nghệ thông tin, làm ra được các sản phẩm và dịch vụ tin học cógiá trị, ưu tiên phát triển công nghiệp "phần miềm", đồng thời tận dụngcác khả năng chuyển giao công nghệ để phát triển một cách thích hợp các cơ sở sảnxuất linh kiện và thiết bị tin học hiện đại.

Nhằm thực hiện các mục tiêu đó,kế hoạch tổng thể phát triển công nghệ thông tin ở nước ta sẽ tập trung vào cácnội dung chủ yếu sau đây:

1. Phát triển các nguồn tiềm lựcvà xây dựng kết cấu hạ tầng về công nghệ thông tin, để ngành công nghệ thôngtin có đủ năng lực thực hiện các dự án về tin học hoá và được ứng dụng sâu rộngtrong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đồng thời xây dựng từng bước vững chắcngành công nghiệp công nghệ thông tin của nước nhà.

2. Thực hiện các dự án tin họchoá chủ chốt trong quản lý nhà nước và trong các lĩnh vực phát triển kinh tế -xã hội, ứng dụng công nghệ thông tin trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đạihoá nền sản xuất và kinh tế của nước ta.

I. PHÁTTRIỂN TIỀM LỰC VÀ XÂY DỰNG KẾT CẤU HẠ TẦNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN.

1/ Giáo dục vàđào tạo về công nghệ thông tin.

a) Cơ cấunhân lực cần cho sự phát triển công nghệ thông tin:

Đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp vềcông nghệ thông tin cần cho sự phát triển công nghệ thông tin ở nước ta trongnhững năm tới bao gồm chủ yếu các loại chuyên viên về: phân tích và thiết kế hệthống, lập trình, giáo viên và nghiên cứu viên về công nghệ thông tin, chuyêngia biên soạn tài liệu, kỹ sư lắp đặt, bảo trì, sửa chữa các thiết bị máy tính,kỹ sư hệ thống để cài đặt và bảo dưỡng các hệ thống phần mềm, kỹ sư mạng máytính và truyền thông, chuyên viên phân tích kinh tế đối với các hệ thống tin học,chuyên viên quản trị các dự án tin học.

Số lượng đội ngũ chuyên viên nóitrên ước tính cho nhu cầu đến năm 2000 là không dưới 20.000 người, trong đó hơnmột nửa là chuyên viên lập trình, khoảng 1/4 là phân tích viên hệ thống và 1/4các loại chuyên viên khác.

Cùng với đội ngũ cán bộ chuyênnghiệp về công nghệ thông tin, cần có kế hoạch giáo dục, đào tạo và huấn luyệnđể cán bộ lãnh đạo và quản lý, chuyên viên các ngành kinh tế, kỹ thuật trong mọilĩnh vực có kiến thức và kỹ năng cần thiết sử dụng các phương tiện của công nghệthông tin như một loại công cụ lao động hiện đại trong hoạt động nghề nghiệp củamình.

Đẩy mạnh việc phổ cập giáo dụcTin học trong Nhà trường Trung học là biện pháp hết sức quan trọng để chuẩn bịcho thế hệ trẻ tiếp cận với các kiến thức và phương tiện hiện đại của công nghệthông tin, tạo cơ sở rộng lớn cho việc chọn lựa, đào tạo một cách nhanh chóng độingũ chuyên nghiệp về công nghệ thông tin sau này.

b) Các biệnpháp tăng cường giáo dục và đào tạo về công nghệ thông tin:

Để có được nguồn nhân lực vềcông nghệ thông tin như trình bày ở trên, từ nay đến năm 2000 sẽ thực hiện cácbiện pháp chủ yếu sau đây:

- Xây dựng mới hoặc hoàn thiệncác khoa công nghệ thông tin tại các Trường Đại học Tổng hợp và Bách khoa trongcả nước. Các khoa công nghệ thông tin này cần được trang bị đầy đủ và hiện đạivề các phương tiện máy tính và truyền thông, có nội dung chương trình đào tạochính quy, và thu hút được vào đội ngũ giáo viên (chính nhiệm và kiêm nhiệm)các chuyên viên giỏi về công nghệ thông tin trong cả nước.

Trong kế hoạch 1995-1996 cần xúctiến ngay việc tăng cường (hoặc tổ chức lại) các khoa công nghệ thông tin ở cáctrường Đại học Bách khoa Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, để mỗi khoacông nghệ thông tin đó có khả năng tiếp nhận hàng năm từ 100 đến 200 sinh viênmới theo chương trình học 4 năm.

- Mở hệ đạo tạo chuyên nghiệp vớichương trình học hai năm để đào tạo các lập trình viên máy tính và các kỹ thuậtviên tin học. Hệ đạo tạo này được thực hiện trong các khoa công nghệ thông tincủa các Trường Đại học hoặc trong các Trường đào tạo chuyên nghiệp về công nghệthông tin. Từ nay đến năm 2000, hệ đào tạo chuyên nghiệp này phải có khả năngnhận vào học hàng năm khoảng 2000 sinh viên mới.

- Cùng với việc đào tạo chuyênnghiệp tại các khoa công nghệ thông tin nói trên, cần tăng cường chương trìnhđào tạo ứng dụng công nghệ thông tin cho sinh viên học các ngành khoa học, kỹthuật và kinh tế ngoài ngành Tin học. Mở các lớp đào tạo lại để chuyển một sốlượng khá lớn các cán bộ, kỹ sư hoặc sinh viên tốt nghiệp từ các ngành khác(toán, lý, kinh tế, kỹ thuật,...) thành chuyên viên tin học.

- Xây dựng một số Trung tâm đàotạo nâng cao về công nghệ thông tin. Các Trung tâm này tổ chức các khoá học ngắnhạn hoặc trung hạn nhằm nâng cao trình độ, cập nhật các tri thức và phương phápmới của công nghệ thông tin hiện đại cho đội ngũ chuyên viên và giáo viên,nghiên cứu viên của ta. Các trung tâm đào tạo nâng cao được tổ chức thí điểm tạiBộ Giáo dục và đào tạo, bên cạnh các trường Đại học, các viện nghiên cứu, hoặclà các trung tâm độc lập do các công ty, các tổ chức phi Chính phủ thành lập.Nguồn kinh phí được cấp một phần từ ngân sách Nhà nước, ngoài ra cần khai tháccác nguồn kinh phí khác từ mọi hình thức hợp tác với nước ngoài, từ các công tyđa quốc gia và các công ty tin học trong nước.

- Để khắc phục cấp bách tình trạngthiếu các giáo viên và chuyên gia chủ chốt cho các chương trình giáo dục và cácdự án ứng dụng, sẽ xây dựng kế hoạch hàng năm gửi các chuyên viên của ta đi họccác lớp đào tạo lại hoặc nâng cao ở nước ngoài, đồng thời với việc tuyển chọncác sinh viên giỏi đi học chính quy ở các nước phát triển.

- Tích cực triển khai tiếp tụcviệc thực hiện Dự án Giáo dục Tin học ở các trường Trung học theo hướng chuẩn bịmột cách tích cực và đồng bộ hơn tất cả các khâu: soạn thảo chương trình giảngdạy, biên soạn tài liệu giảng dạy và sách giáo khoa, đào tạo mới và đào tạo bổtúc giáo viên, trang bị máy tính v.v...

- Khuyến khích việc mở các trường,lớp đào tạo người sử dụng máy tính với các chương trình có tính chất thực hànhngắn hạn thuộc các trình độ khác nhau, nhằm mục đích trang bị khả năng sử dụngmáy tính như một công cụ lao động cho một bộ phận lực lượng lao động ngày càngrộng lớn trong xã hội. Nhà nước hỗ trợ Hội Tin học và các tổ chức Tin học kháctrong việc phát triển các chương trình phổ biến kiến thức về công nghệ công nghệthông tin bằng các hình thức báo chí, phát thanh, truyền hình v.v...

- Phát triển việc ứng dụng côngnghệ thông tin trong giáo dục đào tạo, trước hết là nghiên cứu và phát triểncác phần mềm dạy học có chất lượng cao. Trong các năm tới sẽ phát triển các phầnmềm dạy học về Tin học để phục vụ ngay yêu cầu phổ cập giáo dục Tin học và phổbiến các kiến thức về công nghệ thông tin rộng rãi trong xã hội. Tiếp theo đó sẽmở rộng dần phạm vi phát triển các phần mềm dạy học về ngoại ngữ và các môn họckhác, cũng như các phần mềm dạy học đối với các đối tượng đặc biệt.

2/ Nghiên cứu vàtriển khai về công nghệ thông tin:

a) Xác định mụctiêu cho công tác nghiên cứu và triển khai về công nghệ thông tin.

Mục tiêu cơ bản của công tácnghiên cứu và triển khai về công nghệ thông tin ở nước ta - như Nghị quyết49/CP đã xác định - là nhằm tiếp thu các kiến thức hiện đại và hiểu rõ các xuthế phát triển của công nghệ thông tin trên thế giới để:

- Lựa chọn được các sách lượcchuyển giao công nghệ thích hợp trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng về công nghệthông tin ở nước ta.

- Có khả năng nghiên cứu phântích và thiết kế các hệ thống tin học hoá cùng với việc phát triển các phần mềmứng dụng cho các dự án ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực quản lýnhà nước và các lĩnh vực kinh tế - xã hội;

- Nghiên cứu thiết kế và chế tạocác sản phẩm trong công nghệ thông tin, đặc biệt là các sản phẩm phần mềm vàcác sản phẩm chuyên dụng phục vụ hiện đại hoá sản xuất công nghiệp, nhằm góp phầnđịnh hướng và tham gia thực hiện việc xây dựng ngành công nghiệp công nghệthông tin ở nước ta.

Với mục tiêu cơ bản đó, công tácnghiên cứu và triển khai về công nghệ thông tin trong những năm trước mắt đượctập trung cho nghiên cứu ứng dụng, tạo tiềm lực thực hiện tốt việc chuyển giaotri thức và công nghệ, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc ứng dụngcông nghệ thông tin trong nước. Hoạt động nghiên cứu cơ bản được tiếp tục khuyếnkhích trong một số định hướng mà ta có khả năng và điều kiện.

b) Tổ chứcnghiên cứu và triển khai về công nghệ thông tin:

Để thực hiện các mục tiêu nóitrên, cần có một sự đánh giá và xem xét lại hiệu quả, phương hướng, nội dung hoạtđộng của các cơ sở nghiên cứu hiện có; từ đó có biện phát tích cực định hướng lạivà tăng cường lực lượng nghiên cứu, trang bị cơ sở vật chất - kỹ thuật cho hoạtđộng nghiên cứu - triển khai, cụ thể là:

- Xây dụng Viện Công nghệ Thôngtin thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia cùng một số cơ sởnghiên cứu chủ chốt khác (thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ Côngnghiệp nặng, ...) thành lực lượng nòng cốt về nghiên cứu và triển khai tronglĩnh vực công nghệ thông tin.

- Các khoa công nghệ thông tin ởcác trường Đại học được tăng cường để cùng với chức năng giáo dục, đào tạo, trởthành những đơn vụ nghiên cứu triển khai quan trọng về công nghệ thông tin,phát huy được năng lực của đội ngũ giáo viên và thu hút được lực lượng trẻ vàohoạt động nghiên cứu - triển khai.

- Bằng các chính sách hỗ trợ vàchế độ ưu đãi, khuyến khích việc mở các phòng nghiên cứu và triển khai về côngnghệ thông tin ở các ngành, các địa phương, các công ty thuộc mọi thành phầnkinh tế, với vốn đầu tư từ nguồn trong nước hoặc liên doanh với nước ngoài.

- Khẩn trương xây dựng mạng truyềnthông dữ liệu cho giáo dục, nghiên cứu và triển khai trong nước theo các thủ tụcvà chuẩn của Internet và qua một cửa khẩu chung nối được với mạng Internet quốctế, nhằm tạo điều kiện cho giới giáo dục, nghiên cứu và triển khai của ta traođổi thông tin với nhau và với đồng nghiệp quốc tế.

3/ Phát triểncông nghiệp công nghệ thông tin.

a) Nội dụngphát triển công nghiệp công nghệ thông tin ở nước ta:

Công nghiệp công nghệ thông tinlà ngành công nghiệp mũi nhọn, nhưng đối với nước ta còn là mới mẻ, vì vậy việcxây dựng công nghiệp công nghệ thông tin cần được tiến hành một cách tích cực,đồng thời cần được phân tích và tính toán thận trọng để tránh những rủi ro vàláng phí dễ gặp phải.

Cần ưu tiên cho việc phát triểncông nghệ phần mềm và nâng cao kỹ năng dịch vụ. Thị trường tiêu thụ các sản phẩmphần mềm và dịch vụ của ngành công nghiệp này trong những bước đầu sẽ chủ yếulà thị trường trong nước, qua quá trình tích luỹ kinh nghiệm và trưởng thành sẽcố gắng hướng tới thị trường xuất khẩu.

Trong thời gian tới, cần pháttriển nhanh chóng lực lượng làm phần mềm để đáp ứng nhu cầu ứng dụng và chiếmlĩnh thị trường trong nước về phần mềm ứng dụng, phát triển các phần mềm đáp ứngnhu cầu riêng ( như xử lý văn bản và dữ liệu tiếng Việt), các phần mềm thay thếnhập khẩu (đối với các sản phẩm không nhập được hoặc phải nhập với giá cao),v.v...

Đồng thời, cần phát triển nhanhngành dịch vụ chuyên nghiệp về công nghệ thông tin, gồm các dịch vụ về lập kếhoạch hệ thống, thiết kế hệ thống, tích hợp hệ thống, duy trì và bảo hành hệ thống,các dịch vụ tin học hoá văn phòng..., đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của thị trườngứng dụng công nghệ thông tin trong nước.

Công nghệ phần cứng thường đòi hỏiđầu tư cơ bản lớn, và được xây dựng trên cơ sở một nền sản xuất công nghiệp hoáđã phát triển, trong những năm trước mắt ta cần tận dụng các khả năng hợp tácliên doanh và chuyển giao công nghệ để phát triển một số cơ sản xuất, lắp rápthiết bị tin học, theo những phương án được tính toán là có lợi nhuận, đồng thờiphát triển các cơ sở thiết kế, chế tạo các thiết bị truyền thông và thiết bịtin học chuyên dụng đáp ứng các nhu cầu trong nước, đặc biệt đối với các nhu cầutruyền thông dữ liệu, tự động hoá và hiện đại hoá trong các ngành sản xuất côngnghiệp. Cần đầu tư cho việc đạo tạo cán bộ để phát triển hướng "công nghiệpphần cứng dựa trên phần mềm" là một hướng thích hợp và có nhiều triển vọnghiện nay.

Các công ty siêu quốc gia vềcông nghệ thông tin thiết lập các cơ sở sản xuất máy tính ở Việt Nam và sử dụngnhân công của ta sẽ được hưởng các khoảng ưu đãi theo luật đầu tư của nước ta.

b) Các biệnpháp khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ thông tin:

- Các Viện nghiên cứu và triểnkhai các cơ sở tin học trong trường Đại học và các công ty tin học trong nướcđược khuyến khích phát triển phần mềm ứng dụng bằng các điều kiện thuận lợi vàưu đãi trong việc tham gia đấu thầu thực hiện các sản phẩm phần mềm cho các đềán ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống quản lý Nhà nước cũng như trongcác khu vực khác của kinh tế - xã hội. Một số Viện và cơ sở có điều kiện cũngđược khuyến khích và hỗ trợ đầu tư cho các hướng nghiên cứu, thiết kế, chế tạocác thiết bị tin học chuyên dụng.

- Khuyến khích và hỗ trợ việcthành lập một số trung tâm phát triển phần mềm (trong một số trường hợp có sựtrợ cấp ban đầu của Ngân sách Nhà nước), hoạt động độc lập hoặc nằm trong cácviện, trường, công ty tin học.

- Giúp đỡ việc thành lập và hỗtrợ các hoạt động của một hiệp hội các nhà sản xuất phần mềm để khuyến khích việctrao đổi các ý tưởng, kinh nghiệm và tổ chức các hoạt động tập thể như semina,đào tạo, tham gia các đoàn thương mại làm quen với việc hợp đồng và các luật lệtrong trao đổi hàng hoá phần mềm, v.v...

- Xây dựng một khu công nghiệpcông nghệ thông tin trong khu công nghệ cao, cùng với việc triển khai thực hiệnmột dự án công nghiệp phần mềm hướng xuất khẩu, xem như một bước thí điểm vàchuẩn bị tích cực cho một nền công nghiệp phần mềm xuất khẩu có thể có trongtương lai. Dự án này được thực hiện thông qua chuyển giao công nghệ với sự phốihợp, công tác của các chuyên gia nước ngoài và người Việt ở nước ngoài.

Để hỗ trợ tích cực cho việc pháttriển nhanh chóng công nghiệp công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghiệp phầnmềm, cần quy định một số chính sách cần thiết như miễm thuế hoặc ưu đãi với thuếxuất thấp cho các sản phẩm phần mềm, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với các sảnphẩm phần mềm, trợ giúp xuất khẩu, khuyến khích và hỗ trợ tài chính cho việcđào tạo, gửi người đi học nước ngoài tham gia các sinh hoạt học thuật quốc tế,khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho chuyên viên Việt Nam ở nước ngoài vềnước hợp tác, giúp các trung tâm phần mềm khởi đầu hoạt động bằng cách Nhà nướcgóp cổ phần, cho các khoản trợ cấp và tín dụng ưu đãi, giúp tìm bạn hàng liêndoanh, v.v...

4/ Truyền thôngdữ liệu.

a) Nhu cầu đốivới truyền thông dữ liệu:

Truyền thông dữ liệu ở Việt Namđang trong giai đoạn hình thành. Trong mấy năm gần đây, các nhu cầu truyềnthông dữ liệu đã bắt đầu phát triển mạnh cùng với việc triển khai các hệ thốngtin học trong các ngành Ngân hàng, Tài chính, Thương mại. Ngành Bưu điện đã khởiđầu việc thiết lập mạng VIETPAC X.25 với đường cáp sợi quang và cung cấp các dịchvụ truyền dữ liệu chuyển mạch gói công cộng. Mạng này khi được hoàn thành và đượckết nối với mạng điện thoại tự động đã được số hoá, sẽ cung cấp một phương tiệnquan trọng để triển khai các mạng truyền dữ liệu cho các sự án ứng dụng côngnghệ thông tin trong các ngành kinh tế - xã hội.

Việc ứng dụng nhanh chóng côngnghệ thông tin trong các hệ thống quản lý Nhà nước và trong việc hiện đại hoá kếtcấu hạ tầng về thông tin của đất nước đòi hỏi xây dựng và triển khai nhiều dựán có phạm vi quốc gia, các dự án này đều có các nhu cầu to lớn tiềm tàng vềtruyền thông dữ liệu. Trong giai đoạn đầu cần ưu tiên đáp ứng các nhu cầu truyềnthông dữ liệu trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, phát triển kinh tế thị trường,giáo dục và nghiên cứu triển khai.

Nhu cầu về truyền thông dữ liệucũng sẽ gia tăng nhanh khi nền kinh tế và đất nước ta gia nhập sâu rộng hơn vàocộng đồng quốc tế.

b) Dự án mạngtruyền thông dữ liệu quốc gia:

Dự án mạng truyền thông dữ liệuquốc gia có nhiệm vụ, trên nền của mạng truyền dẫn chung do ngành bưu chính viễnthông xây dựng, phát triển hệ thống các dịch vụ cơ bản về truyền thông dữ liệu,nhằm cung cấp cơ sở hạ tầng, dịch vụ cho mọi nhu cầu truyền thông dữ liệu trongxã hội. Mạng sẽ có khả năng cung cấp các dịch vụ truyền thông dữ liệu theo cácphương thức khác như sau.

- Mạng điện thoại chuyển mạchcông cộng (PSTN),

- Mạng chuyển mạch gói công cộng(PPSN),

- Mạng đa dịch vụ kỹ thuật số(ISDN),

- Dịch vụ dải băng theo nhu cầu.

Nhằm đáp ứng các yêu cầu của ngườisử dụng từ việc truyền các tệp dữ liệu theo cách điểm nối điểm hoặc đa điểm,trao đổi dữ liệu tức thời, đến tổ chức các cơ sở dữ liệu phân tán, nối các mạngcục bộ (LAN) để tạo thành mạng miền rộng (WAN), tổ chức mạng thư tín điện tửv.v...

Mạng truyền thông dữ liệu quốcgia sẽ có khả năng cung cấp đến cuối năm 1995 các dịch vụ thuê bao kênh X.25chuyển mạch gói đến tất cả các tỉnh lỵ và một số huyện, và cuối 1996 đến hơn400 huyện trong cả nước. Đến năm 2000, dự kiến các nhu cầu cơ bản về truyềnthông dữ liệu theo nhiều tốc độ khác nhau đến các vùng lãnh thổ trong nước sẽđược đáp ứng. Như vậy, dự án Mạng truyền thông dữ liệu quốc gia sẽ được tích cựuthực hiện để cung cấp các dịch vụ cần thiết cho việc phát triển các dự án ứng dụngcông nghệ thông tin trong những năm tới.

Trên cơ sở mạng truyền dẫn chungcủa ngành Bưu chính viễn thông và các dịch vụ cơ bản do dự án Mạng truyền thôngdữ liệu quốc gia cung cấp, cần nghiên cứu để xây dựng các mạng ứng dụng mộtcách hợp lý và có hiệu quả kinh tế.

Cần nghiên cứu và triển khai xâydựng một Mạng ứng dụng thống nhất cho hệ thống quản lý nhà nước. Nhu cầu truyềnthông tin dữ liệu trong các cơ quan Nhà nước ngày càng lớn, giữa Chính phủ vớicác Bộ, ngành ở Trung ương cùng với các tỉnh, thành địa phương. Do nhu cầu đó,và cũng còn do các yêu cầu riêng về an toàn thông tin, về độ tin cậy, ... nên cầnxây dựng một mạng ứng dụng thống nhất về truyền thông dữ liệu cho hệ thống quảnlý Nhà nước. Mạng này được thiết kế để chuyển tất cả các loại thông tin (tiếngnói, Fax, dữ liệu, ảnh và văn bản); trong giai đoạn đầu tập trung vào truyền dữliệu và thư tín điện tử, tạo cơ sở cho việc thực hiện các dịch vụ quan trọng,như: báo cáo nhanh về tình hình kinh tế - xã hội, thông qua và phê chuẩn cácquyết định, lập kế hoạch các cuộc họp, sinh hoạt, và các công tác khác, phân phốicác bản tin nội bộ đến những người được quy định, truy nhập vào các hệ thôngtin và cơ sở dữ liệu, v.v...

II- ỨNG DỤNGCÔNG NGHỆ THÔNG TIN.

1/ Xây dựng hệthống các cơ sở dữ liệu quốc gia và Tin học hoá quản lý Nhà nước.

a) Yêu cầu vàkiến trúc chung của hệ thống:

Quản lý nhà nước phải là lĩnh vựcưu tiên hàng đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin. Cơ sở thông tin để phụcvụ cải tiến quản lý Nhà nước là hệ thống các cơ sở dữ liệu quốc gia, có đủ khảnăng lưu trữ và cung cấp nhanh chóng, kịp thời mọi thông tin cần thiết về tìnhhình kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, cũng như các thông tin liên quankhác, để các cơ quan Nhà nước có căn cứ xây dựng các quyết định của mình.

Hệ thống gồm các thành phần làcác hệ cơ sở dữ liệu tương đối độc lập của các Bộ, ngành, các tỉnh, thành phố;tuy nhiên giữa các thành phần đó vừa có nhiều mối liên kết ngang với chức năngtrao đổi, chia sẻ thông tin, vừa có những mối liên kết dọc theo cấu trúc phân cấpcủa hệ thống chức năng quản lý Nhà nước. Vì các thành phần là tương đối độc lậpcả về bản chất thông tin dữ liệu, cả về yêu cầu của nhiệm vụ quản lý mà nó cầnđáp ứng, nên lẽ tự nhiên là việc tin học hoá sẽ được thực hiện một cách tương đốiđộc lập ngay từ đầu ở các Bộ, ngành, địa phương. Đồng thời, cần nghiên cứu phântích và thiết kế tổng thể toàn hệ thống để xác định rõ các yêu cầu và cách thựchiện bằng công cụ tin học các mối liên kết chung, đặc biệt là các liên kếttrong quan hệ phân cấp của hệ thống.

Vì vậy, kế hoạch ứng dụng côngnghệ thông tin để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và tin học hoá quảnlý nhà nước trong những năm tới sẽ là: một mặt, nghiên cứu thiết kế tổng thểtoàn hệ thống và bước đầu thực hiện hệ cơ sở dữ liệu tổng hợp tại Văn phòngChính phủ để phục vụ công tác quản lý chung của Chính phủ; đồng thời, trên cơ sởcác yêu cầu phối hợp của thiết kế chung và các yêu cầu riêng của mình, các Bộ,ngành, địa phương sẽ thực hiện dần các dự án tin học hoá của ngành hoặc địaphương mình; trước hết đối với các nhiệm vụ và các ngành tác động trực tiếp đếnchức năng quản lý chung của Nhà nước.

Ngoài chức năng phục vụ các hoạtđộng quản lý Nhà nước, hệ thống các cơ sở dữ liệu quốc gia phải được tận dụngkhai thác để cung cấp các dịch vụ thông tin (theo những quy định cần thiết và vớithể thức thuận tiện) cho mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học,phát triển văn hoá, xã hội theo yêu cầu của mọi thành phần kinh tế và mọi cánhân, trong nước và ngoài nước.

b) Các dự ánxây dựng hệ thống các cơ sở dữ liệu quốc gia và tin học hoá quản lý nhà nước:

Theo kiến trúc chung nói trên,các dự án tin học sẽ được nghiên cứu và triển khai ở tất cả các Bộ, ngành, địaphương. Tuy nhiên, trong những năm tới sẽ được tập trung cho một số dự án chủchốt sau đây:

1. Dự án nghiên cứu thiết kế tổngthể và hệ thống tin quản lý tại Văn phòng Chính phủ.

Dự án do Văn phòng Chính phủ chủtrì, với sự phối hợp chặt chẽ của Ban Chỉ đạo chương trình quốc gia về công nghệthông tin, nhằm thực hiện hai nội dung cơ bản:

a - Nghiên cứu phân tích và thiếtkế tổng thể về hệ thống các cơ sở dữ liệu quốc gia, xác định kiến trúc chung củatoàn thể hệ thống thông tin và các mối liên kết, đặc biệt là các quan hệ phân cấptrong toàn hệ thống, đề xuất các phương án tin học hoá thực hiện các mối quan hệđó.

b - Xây dựng cơ sở dữ liệu tổnghợp tại Văn phòng Chính phủ, nối với các cơ sở dữ liệu của các Bộ, ngành, địaphương (trước mắt với 11 Bộ và 10 tỉnh thành trọng điểm) nhằm cung cấp kịp thờicác thông tin chủ yếu về kinh tế, xã hội, luật pháp, quốc phòng, nội vụ, ngoạigiao... phục vụ sự lãnh đạo của Thủ tướng và Chính phủ.

Cơ sở dữ liệu tổng hợp này cũngđược sử dụng cho việc xây dựng và thực hiện các Dự án tin học hoá nhằm phục vụsự lãnh đạo của Trung ương Đảng, của Quốc hội.

2. Dự án Xây dựng hệ thống thôngtin kinh tế - xã hội phục vụ công tác kế hoạch và quản lý kinh tế.

Dự án này do Uỷ ban Kế hoạch Nhànước chủ trì, có mục tiêu là xây dựng hệ thống thông tin tin học hoá để phục vụviệc lập kế hoạch và điều hành kinh tế của Chính phủ, đồng thời cung cấp các dịchvụ thông tin về kinh tế xã hội cho các ngành, các cơ quan nghiên cứu, các cơ sởsản xuất, các doanh nghiệp và tư nhân trong xã hội.

Hệ thống có các phân hệ về: phântích và lập chính sách, điều hành kinh tế, quản lý tài chính, quản lý nợ, huy độngnguồn lực, ngân hàng các dự án đầu tư. Nguồn thông tin vào của hệ thống chủ yếuđược tập hợp từ các Bộ, ngành ở Trung ương (đặc biệt từ các ngành tài chính,ngân hàng, thống kê, thương mại...), các cơ quan kế hoạch các cấp, các cơ quantài trợ nước ngoài và các tổ chức quốc tế. Thông tin ra của hệ thống bao gồmcác phân tích, dự báo kinh tế, các phương án kế hoạch, các quyết định về quảnlý và điều hành kinh tế; các hướng dẫn về kinh tế xã hội, các dịch vụ tư vấn vàhỏi đáp thông tin về kinh tế, xã hội, v.v...

3. Dự án Hệ thống thông tin tàichính.

Dự án do Bộ Tài chính chủ trì,có mục tiêu là xây dựng một hệ thống thông tin tài chính hiện đại, thiết lập mộthệ thống thống nhất các cơ sở dữ liệu tài chính của cả nước, nhằm đáp ứng cácnhu cầu:

- Cung cấp cho lãnh đạo Bộ vàlãnh đạo các cấp các thông tin chính xác, kịp thời, đầy đủ, làm cơ sở cho việcra các quyết định điều hành nền tài chính quốc gia.

- Kết xuất các thông tin nhanhvà thông tin định kỳ theo các chỉ tiêu quan trọng nhất đối với ngành tài chínhđể cung cấp cho các cơ quan lãnh đạo Chính phủ, Quốc hội.

- Thực hiện thuận tiện và nhanhchóng việc trao đổi và cung cấp thông tin cho các ngành khác nhau của Nhà nướcnhư: Ngân hàng nhà nước, Uỷ ban Kế hoạch nhà nước, Uỷ ban Nhà nước về hợp tácvà đầu tư...

Trong thời gian tới, sẽ mở rộngvà cải tiến các hệ thống thông tin đã được bước đầu triển khai và hoạt động nhưhệ thông tin về thuế, hệ thống tin kho bạc nhà nước, hệ ngân sách. Đồng thời,tích cực hoàn thiện việc soạn thảo đề cương tổng thể của dự án để tiếp tục đẩymạnh việc thực hiện dự án theo đề cương tổng thể đó.

4. Dự án hiện đại hoá hệ thốngngân hàng:

Dự án do Ngân hàng Nhà nước chủtrì, với sự tham gia thực hiện của Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng thương mại.

Mục tiêu chung của dự án là:

- Hoàn chỉnh các chế độ, thể lệchuẩn hoá thông tin, các tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy trình nghiệp vụ thanhtoán theo hướng hiện đại, tin học hoá.

- Mở rộng diện thanh toán khôngdùng tiền mặt trong dân cư, nhất là trong khu vực tư nhân.

- Xây dựng hệ thống thanh toánquốc gia hiện đại theo các yêu cầu dịch vụ hiện đại của các Ngân hàng.

- Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữliệu ngân hàng, đảm bảo cung cấp các thông tin một cách nhanh chóng, chính xáccho việc hoạch định các chính sách ổn định tiền tệ của nhà nước.

Cùng với các ứng dụng quan trọngmang tính chất nghiệp vụ ngân hàng như cung cấp các dịch vụ thanh toán chokhách hàng, xây dựng mạng lưới thanh toán quốc gia và quốc tế, thực hiện các dịchvụ thanh toán bù trừ điện tử và thanh toán chuyển tiền điện tử,... Hệ thốngthông tin được thực hiện qua Dự án sẽ cung cấp các thông tin về các hoạt độngthanh toán, thương mại, kinh doanh trong khu vực nhà nước và xã hội, các thôngtin thống kê, báo cáo,... phục vụ Nhà nước hoạch định các chính sách và tiền tệ,tài chính và quản lý kinh tế nói chung.

5. Các dự án về các hệ thốngthông tin thống kê Nhà nước:

Hệ thống thông tin thống kê nhànước là hệ thống thông tin cơ bản của quốc gia, cung cấp những thông tin chínhthức về các chỉ tiêu cơ bản phản ánh thực trạng đất nước trong mọi lĩnh vựckinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế, v.v... thông tin về kết cấu hạ tầngvà các nguồn tài nguyên của đất nước. Các hệ thống thông tin này được thu thậptừ nhiều nguồn khác nhau: các báo cáo thống kê định kỳ từ mọi ngành, mọi địaphương; các cuộc điều tra đầy đủ như điều tra dân số, tổng kiểm tra tài sản nhànước,... và cả các cuộc điều tra theo phương pháp chọn mẫu để phục vụ những mụctiêu nhất định. Các hệ thống thông tin này - qua nhiều quy trình tổng hợp và xửlý khác nhau - cung cấp dữ liệu cho Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nướctrong việc hoạch định các kế hoạch và dự án phát triển của đất nước, cung cấp cácdịch vụ thông tin cho mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu kinh tế,văn hoá, và cũng là nguồn chính thức cung cấp thông tin cho các cơ quan thốngkê quốc tế.

Dự án ứng dụng công nghệ thôngtin trong hệ thống thống kê Việt Nam do Tổng cục Thống kê chủ trì sẽ tiếp tụccông việc hiện đại hoá hệ thống thông tin thống kê nhà nước, trước hết là các hệcơ sở dữ liệu về dân số, lao động, về sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, tiến tớixây dựng các hệ cơ sở dữ liệu đầy đủ hơn về kinh tế - xã hội của cả nước.

Dự án hệ thống thông tin địa lý- viễn thám về tài nguyên và môi trường do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trườngthực hiện với khả năng lưu trữ thông tin bản đồ, hình ảnh... là một hệ thôngtin quan trọng phục vụ việc hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế và bảo vệmôi trường ở nước ta.

Ngoài ra, ở một số ngành kháccũng có các dự án xây dựng các hệ thống thông tin thống kê chuyên ngành củamình, như hệ thông tin về địa chính, về tài nguyên rừng, về khoáng sản, dầu khív.v...

2/ Công nghệthông tin trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng:

Quốc phòng và an ninh là nhữnglĩnh vực cần được sử dụng những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ.Tin học ở nước ta, ngay từ những ngày đầu phát triển, tuy còn rất nhiều hạn chếvề khả năng, nhưng cũng đã được ứng dụng trong một số mặt hoạt động của ngànhan ninh và quốc phòng.

Phạm vi của những vấn đề ứng dụngcông nghệ thông tin trong các lĩnh vực này rất rộng rãi, từ các vấn đề chung vềquản lý, về cải tiến kỹ thuật, đến những vấn đề có tính chất đặc thù nghiệp vụ.

Thực hiện Nghị quyết 49/CP củaChính phủ, các ngành an ninh và quốc phòng đề xuất các dự án tiếp tục đẩy mạnhviệc ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành mình. Các dự án này sẽ được tiếptục hoàn thiện về mặt luận chứng khoa học và công nghệ, và được Nhà nước quantâm đầu tư để triển khai thực hiện.

3/ Xây dựng mạngthông tin thương mại và thị trường:

a) Nhu cầuthông tin của kinh tế thị trường:

Công cuộc đổi mới đang tiếp tụcchuyển đổi một cách nhanh chóng nền kinh tế nước ta theo hướng kinh tế thị trường.Trong mấy năm vừa qua, thị trường trong nước đã phát triển nhanh chóng, dần đivào thế ổn định và lành mạnh, và đang từng bước hoà nhập vào thị trường khu vựcvà quốc tế. Sự phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi một khối lượng giaolưu thông tin rất lớn, cần được đáp ứng nhanh chóng, kịp thời, chính xác và antoàn.

Trên cơ sở các dự án do BộThương mại, Ban Vật giá của Chính phủ và Phòng Thương mại và Công nghiệp ViệtNam đề xuất, cần phối hợp các cố gắng chung và huy động nguồn lực từ mọi thànhphần kinh tế để xây dựng và thực hiện một dự án chung về mạng thông tin thươngmại và thị trường.

b) Dự án mạngthông tin thương mại và thị trường:

Dự án mạng thông tin thương mạivà thị trường có thể được xây dựng trên cơ sở chuẩn hoá, nâng cấp và phát triểnmạng thông tin thương mại của Bộ Thương mại hiện nay, liên kết với các cơ sở dữliệu được xây dựng tại Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam , Ban Vật giá,các cơ quan thương mại và các doanh nghiệp.

Mạng thông tin thương mại và thịtrường sẽ cung cấp các thông tin kinh tế, thương mại cho tất cả các cơ quan nhànước, các doanh nghiệp và cá nhân theo yêu cầu của các hoạt động sản xuất, kinhdoanh, nghiên cứu thị trường..., cung cấp các dịch vụ tư vấn đầu tư và kinhdoanh, các dịch vụ môi giới mua bán hàng hoá, các doanh nghiệp nước ngoài.Trong tương lai mạng sẽ là nơi chủ yếu để các doanh nghiệp tiến hành các giao dịchthương mại.

Dự án do Bộ Thương mại chủ trì,với sự phối hợp của Ban Vật giá, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và sựtham gia tự nguyện của các doanh nghiệp. Dự án được Nhà nước cung cấp hoặc hỗtrợ đầu tư vốn một phần trong giai đoạn đầu xây dựng và triển khai.

4/ Ứng dụngcông nghệ thông tin trong hiện đại hoá các ngành sản xuất và dịch vụ:

a) Công nghệthông tin và sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá:

Công nghiệp hoá và hiện đại hoálà một nội dung cơ bản của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta trongnhững thập niên tới. Sự nghiệp đó, trong bối cảnh của cách mạng khoa học vàcông nghệ hiện đại, gắn liền với việc ứng dụng công nghệ thông tin. Việc ứng dụngđó đối với các ngành sản xuất và dịch vụ là hết sức phong phú và đa dạng, gồmcác loại nội dung sau đây:

- Tự động hoá từng phần hoặctoàn bộ quá trình sản xuất, chế tạo, như tự động hoá thiết kế (hay thiết kế vớisự trợ giúp của máy tính, CAD), chế tạo với sự trợ giúp của máy tính (CAM), điềukhiển tự động các quá trình chế tạo máy, điều độ các mạng sản xuất và cung cấpđiện năng,v.v...

- Đưa các yếu tố điện tử - tin họcvào bản thân các sản phẩm công nghiệp để tạo ra các thiết bị, máy móc "thông tin", các loại sản phẩm này đang thay thế dần nhiều loại thiết bịthuần tuý cơ giới, và được thiết kế, sản xuất để đáp ứng như cầu hết sức đa dạngtrong mọi lĩnh vực hoạt động.

- Ứng dụng công nghệ thông tintron việc nâng cấp và hiện đại hoá các hoạt động dịch vụ, nhất là trong cáclĩnh vực có tính chất quốc tế, như dịch vụ du lịch, vận tải, hàng không, dịch vụbảo hiểm, dịch vụ xuất nhập cảnh v.v...

b) Các dự án ứngdụng công nghệ thông tin trong hiện đại hoá sản xuất và dịch vụ:

Trong giai đoạn đầu của côngnghiệp hoá và hiện đại hoá, các ngành sản xuất và dịch vụ của ta đang và sẽ tiếptục được trang bị nhiều máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ nhập từ nướcngoài; cùng với quá trình đó ta sẽ xây dựng và phát triển dần năng lực côngnghiệp trong việc trang bị các thiết bị và công nghệ hiện đại cho nền sản xuấtcủa ta. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hiện đại hoá các ngành sản xuấtvà dịch vụ sẽ được tổ chức thành các dự án riêng, hoặc là một bộ phận hợp thànhquan trọng trong các dự án về hiện đại hoá của các xí nghiệp công nghiệp hoặccác tổ chức dịch vụ.

Đối với các cơ sở sản xuất côngnghiệp có, cần nghiên cứu kỹ từng trường hợp, để ở những nơi có điều kiện, xâydựng và thực hiện các dự án nâng cấp và hiện đại hoá bằng việc đưa các yếu tốcông nghệ thông tin và điều khiển tự động vào các khâu cần thiết và có thể củacác dây chuyền sản xuất.

Nghiên cứu khả năng xây dựng vàthực hiện một dự án mẫu về một xí nghiệp công nghiệp được tin học hoá hoàn toànvà đồng bộ, từ các khâu tổ chức, lập kế hoạch, quản lý, điều hành, tự động hoásản xuất, đến các khâu tiếp thị, tiêu thụ sản phẩm và các hoạt động kinh doanh.

Việc ứng dụng công nghệ thôngtin có vai trò rất quyết định và mang lại hiệu quả kinh tế cao đối với nhiềungành dịch vụ quan trọng. Cần tích cực triển khai các dự án ứng dụng công nghệthông tin một cách đồng bộ đối với các ngành và các công ty dịch vụ trong cáclĩnh vực quan trọng đối với kinh tế - xã hội.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thôngtin tron khu vực sản xuất và dịch vụ là công việc của các ngành, các xí nghiệpvà cơ sở sản xuất, dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế. Nhà nước cần có chínhsách ưu tiên đầu tư, cho vay vốn, miễm giảm thuế,... đối với các dự án đưa côngnghệ thôn tin vào các ngành sản xuất, dịch vụ với luận chứng rõ ràng về khảnăng nâng cao chất lượng và hiệu quả.

Biện pháp quan trọng nhất tronglĩnh vực này là tăng cường đầu tư cho công tác đào tạo, nghiên cứu va triểnkhai, để có được một đội ngũ chuyên viên, kỹ sư, kỹ thuật viên có hiểu biết hiệnđại về công nghệ thông tin trong mỗi ngành sản xuất, dịch vụ, chủ động đưa đượccác tiến bộ công nghệ thông tin vào từng lĩnh vực đặc thù của các ngành đó. Vìvậy, cần tăng cường chương trình đào tạo về công nghệ thông tin cho các ngành kỹthuật, kinh tế ở các trường Đại học, tăng cường các bộ phận nghiên cứu và triểnkhai về điêu khiển tự động, tự động hoá thiết kế, v.v... ở các Viện nghiên cứu,các trung tâm đào tạo nâng cao, và các trung tâm phát triển phần mềm nói đếntrong bản kế hoạch này.

5/ Công nghệthông tin phục vụ các ngành y tế, văn hoá, xã hội:

Trong giai đoạn đầu của củachương trình phát triển công nghệ thông tin ở nước ta, ta phải tập trung cho việctiềm lực và phát triển các ứng dụng ở các lĩnh vực có nhu cầu cấp thiết nhấtnhư quản lý nhà nước, phát triển nền kinh tế thị trường đang bước đầu được hìnhthành, v.v ... Tuy nhiên, về lâu dài ta cần chú ý rằng công nghệ thông tin là mộtyếu tố có tính chất cách mạng trong việc nâng cao toàn diện chất lượng sống củacon người và các quan hệ phong phú trong xã hội - và theo xu hướng chung trênthế giới, công nghệ thông tin sẽ góp phần chủ yếu đưa xã hội ta phát triển theohướng hình thành một "xã hội thông tin".

Công nghệ thông tin góp phầnnâng cao chất lượng sống của con người cả về đời sống kinh tế, cả về đời sốngvăn hoá, tinh thần và về chất lượng của những phúc lợi xã hội, đặc biệt về cácphúc lợi y tế và chăm sóc sức khoẻ.

Trên tinh thần khuyến khích vàtích cực hỗ trợ mọi sáng kiến ứng dụng công nghệ thông tin do các ngành và cáccơ quan văn hoá, y tế, xã hội tự đề xuất và tổ chức thực hiện. Nhà nước sẽ đầutư cho việc nghiên cứu và triển khai một số dự án quan trọng:

- Dự án ứng dụng công nghệ thôngtin trong công tác y tế và bảo vệ sức khoẻ, với các nội dung chủ yếu là thực hiệncác thống kê y tế, xây dựng các phương án phòng bệnh và bảo vệ sức khoẻ, phục vụnghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế và chăm lo sức khoẻ củanhân dân, v.v.

- Dự án ứng dụng công nghệ thôngtin trong công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình, với nội dung xây dựng cáccơ sở dữ liệu và phát triển dân số, về thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá giađình,... nhằm giúp Uỷ ban dân số và kế hoạch hoá gia đình và Nhà nước hoạch địnhcác chính sách và kế hoạch về dân số.

- Dự án ứng dụng công nghệ thôngtin trong việc bảo tồn các di sản văn hoá dân tộc, với nội dung chủ yếu là dùngcông nghệ thông tin để xây dựng các kho dữ liệu về các di sản văn hoá, như chữNôm và các văn bản Hán - Nôm, các tư liệu dưới dạng đồ hoạ,... để các kho tư liệuđó được bảo tồn, tôn tạo bằng các phương pháp hiện đại, và quan trọng hơn nữalà được khai thác sử dụng một cách thuận tiện cho các mục đích nghiên cứu và phổbiến văn hoá dân tộc.

III - CÁCCHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH VIỆC PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Việc thực hiện Nghị quyết 49/CPcủa Chính phủ về phát triển công nghệ thông tin sẽ có tầm ảnh hưởng sâu rộngtrong mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của nước ta, để thực hiện được các mụctiêu nêu trong Nghị quyết đòi hỏi phải huy động nhiều nguồn lực của đất nước: từcác cơ quan Nhà nước, từ hệ thống giáo dục và nghiên cứu triển khai, từ mọi tổchức kinh tế và xã hội, từ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế,v.v...

Trên tinh thần đó, trong thờigian tới cần khẩn trương nghiên cứu, dự thảo, xét duyệt và ban hành một sốchính sách và biện pháp cấp bách trong một số lĩnh vực sau đây:

1/ Các chínhsách về chuẩn và hệ thống mở:

Nghị quyết 49/CP về phát triểncông nghệ thông tin đã coi "hệ thống mở" là một trong các quan điểmchủ đạo của việc phát triển công nghệ thông tin ở nước ta, nhằm tăng hiệu quảvà giảm lãng phí, đảm bảo tính nhất quán giữa việc phát triển kết cấu hạ tầng củacông nghệ thông tin, huấn luyện đào tạo về công nghệ thông tin, xây dựng nềncông nghiệp công nghệ thông tin và phát triển các hệ thống tin học hoá trong ứngdụng công nghệ thông tin.

Phát triển công nghệ thông tintheo quan điểm hệ thống mở đòi hỏi phải xác định và tuân theo một hệ các chuẩnvà nhóm chuẩn - các chuẩn này được lựa chọn phù hợp với các xu hướng phát triểnphổ biến của công nghệ thông tin ở nước ta.

Bộ khung các chuẩn cho môi trườnghệ thống mở trong phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin cần bao gồm các phạmtrù về: dịch vụ hệ điều hành, giao người / máy tính, các vấn đề đặc thù ViệtNam (như chuẩn mã chữ Việt...), dịch vụ quản trị cơ sở dữ liệu, dịch vụ trao đổi,truyền đưa dữ liệu, mạng máy tính, dịch vụ đồ hoạ, an toàn thông tin dữ liệu,quản trị hệ thống, và các vấn đề khác.

Cần sớm nghiên cứu đề xuất cácloại chuẩn nói trên để trình Chính phủ ban hành. Mọi cơ quan Nhà nước đều phảituân thủ các chuẩn có tính chất pháp lý do Chính phủ quy định. Các tổ chứcngoài Nhà nước được khuyến khích sử dụng cũng tập hợp các chuẩn đó và tuân thủchính sách hệ thống mở. Việc tuân thủ các chuẩn pháp lý được thực hiện thôngqua việc xét duyệt kinh phí đầu tư cho các dự án từ nguồn ngân sách Nhà nước.Việc miễn trừ yêu cầu tuân thủ các chuẩn bắt buộc có thể được xem xét cho từngtrường hợp cụ thể chỉ khi có yêu cầu thực sự của các ứng dụng đặc biệt với nhữnglý do xác đáng.

2/ Chính sáchvà biện pháp đối với việc xây dựng kết cấu hạ tầng của công nghệ thông tin:

Trong những năm sắp đến sẽ triểnkhai nhiều dự án ứng dụng công nghệ thông tin trong khu vực Nhà nước cũng nhưtrong các thành phần kinh tế khác của xã hội. Kết cấu hạ tầng về máy tính/viễnthông của nước ta sẽ được hình thành dần. Các chính sách và biện pháp trong phầnnày nhăm bảo đảm cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng đó tránh được những lãng phícó thể gặp phải, và được phát triển phù hợp với xu hướng hiện đại trong sự pháttriển công nghệ thông tin nói chung. Ngoài chính sách về chuẩn và hệ thống mở mởnói trên, cần chuẩn bị để ban hành các chính sách sau đây:

a. Chính sáchvề mua sắm các sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin đối với các dự án được đầutư từ nguồn ngân sách Nhà nước:

Tất cả các kế hoạch mua sắm thuộcloại này nhất thiết phải thông qua các thể thức đấu thầu và hợp đồng. Thể thứcnày bao gồm cả việc công bố công khai, việc đấu thầu và giám sát kết quả đấu thầu.Chính sách đó đảm bảo các nhu cầu về công nghệ thông tin được xác định đúng đắn,các nhà cung cấp đủ tiêu chuẩn được chọn lựa đúng đắn, và các điều kiện tàichính hay pháp lý hợp đồng phải chịu sự giám sát. Chính sách này cũng cho ta cơchế để đảm bảo rằng các tiêu chuẩn thống nhất và nhất quán về kỹ thuật, như cácchuẩn của môi trường hệ thống mở, được tuân thủ trong các đề án của Nhà nước.

b. Chính sáchvề phát triển các mạng viễn thông truyền dữ liệu:

Nhu cầu về sử dụng các phương tiệntruyền thông dữ liệu là phổ biến đối với mọi người sử dụng tin học và các dự ánứng dụng công nghệ thông tin. Trên cơ sở một mạng viễn thông thống nhất ở tầngvật lý, cho phép nhiều công ty viễn thông khác nhau thiết lập và điều hành cácmạng dịch vụ giá trị gia tăng, được cạnh tranh lành mạnh trong việc phục vụkhách hàng. Có chính sách tính giá cước viễn thông ưu đãi cho các tổ chức vàcác hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu và triển khai.

c. Các chínhsách hỗ trợ phát triển công nghệ công nghiệp thông tin trong nước:

Để thúc đẩy nền công nghiệp côngnghệ thông tin ở nước ta, thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi để thiết lập cácdoanh nghiệp Việt Nam (hay các liên doanh do phía Việt Nam kiểm soát) tronglĩnh vực công nghệ thông tin, đặc biệt đối với các doanh nghiệp sản xuất các sảnphẩm phần mềm và thực hiện các dịch vụ công nghệ thông tin.

Trong việc đấu thầu thực hiệncác dự án của Nhà nước, có sự ưu đãi thích đáng đối với các tổ chức và doanhnghiệp công nghệ thông tin trong nước.

d. Chính sáchvề thuế và thời gian khấu hao thiết bị:

Để tạo thuận lợi cho việc thườngxuyên đổi mới các trang thiết bị về công nghệ thông tin theo các tiến bộ khoa họccông nghệ hiện đại, và cũng để khuyến khích các người dùng đầu tư mua sắm thiếtbị cho các ứng dụng công nghệ thông tin, sẽ có chính sách ưu đãi về thuế bằngcách cho phép khấu hao nhanh các thiết bị và sản phẩm (cả phần cứng và phần mềm)được dùng trong các công trình ứng dụng đó.

3/ Các chínhsách khuyến khích đào tạo.

Trên cơ sở thực hiện các biệnpháp tăng cường công tác giáo dục, đào tạo về công nghệ thông tin như đã trìnhbày ở trên, sẽ bổ sung thêm một số chính sách nhằm khai thác mọi khả năng đểtăng cường và khuyến khích việc đào tạo về kỹ năng cho đội ngũ cán bộ, kỹ sư vềcông nghệ thông tin của nước ta. Các chính sách và biện pháp đó bao gồm:

- Khuyến khích việc đào tạo, huấnluyện của các trường dạy nghề, các cơ sở đào tạo ngoài khu vực Nhà nước.

- Quy chế cho phép giảng dạy vềcông nghệ thông tin cả bằng tiếng Việt và tiếng Anh để đào tạo nhanh các kỹ sư,chuyên viên làm việc thuận lợi với nước ngoài.

- Các công ty đa quốc gia thựchiện các dự án phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin có trách nhiệm, theohợp đồng, tuyển chọn và đào tạo kỹ năng cho người Việt Nam tham gia dự án.

Cùng với các chính sách và biệnpháp đào tạo nói trên cũng sẽ có các chế độ quy định những yêu cầu tối thiểu vềkiến thức công nghệ thông tin và khả năng sử dụng công cụ tin học đối với cáccán bộ, nhân viên được tuyển chọn vào làm việc trong các cơ quan Nhà nước.

4/ Các chínhsách và biện pháp đối với việc phát triển các hệ thống thông tin tin học hoá.

a. Tạo nguồnthông tin và chuẩn hoá các thông tin phát sinh:

Trong việc thực hiện các dự án ứngdụng công nghệ thông tin, nội dung quan trọng nhất là xây dựng các hệ thống thôngtin và cơ sở dữ liệu. Xác định các nguồn thông tin chuẩn hoá, các loại thôngtin từ nguồn phát sinh là yêu cầu đầu tiên của việc thu thập thông tin cho việcxây dựng các hệ thống thông tin tin học hoá. Nghị quyết 49/CP đã quy định: Vănphòng Chính phủ chủ trì với Tổng cục Thống kê, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, BộKhoa học, Công nghệ và Môi trường ban hành sớm quy định chuẩn hoá các loạithông tin cho các hoạt động quản lý điều hành quan trọng nhất của Nhà nước.Theo quy định chuẩn hoá thông tin đó, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộcChính phủ, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nghiên cứuban hành các chuẩn thông tin trong hệ thống tin học phục vụ quản lý của mình.Các loại mẫu biểu và chế độ báo cáo, truyền đưa thông tin phải được cải tiến vàbổ sung theo yêu cầu của ứng dụng công nghệ thông tin. Việc thực hiện bắt buộccác chế độ về thông tin được thể chế hoá thành các quy định của pháp luật.

b. Trao đổithông tin và bảo vệ thông tin:

Phát triển các hệ thống thôngtin tin học hoá sẽ tăng nhanh chóng lưu lượng trao đổi thông tin trong nướccũng như với nước ngoài. Việc trao đổi và bảo vệ thông tin được tiến hành mộtcách phù hợp với chính sách mở của kinh tế của Nhà nước ta. Nghị quyết 49/CPquy định: Bộ Văn hoá - Thông tin chủ trì phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tư phápnghiên cứu ban hành chính sách trao đổi và bảo vệ thông tin theo nguyên tắc:các thành phần kinh tế đều được bình đẳng trước pháp luật về quyền được thôngtin và giao lưu thông tin ở trong nước cũng như với các cơ sở kinh tế ở nướcngoài nhằm phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của mình; việc giao lưu thôngtin với các tổ chức quốc tế và nước ngoài phải tuân theo các thông lệ quốc tếvà pháp luật hiện hành của Nhà nước ta; quyền sở hữu và bí mật thông tin của cánhân cũng như của các tổ chức kinh tế, xã hội cũng sẽ được thể chế hoá bằngpháp luật và thực hiện bằng các giải pháp khoa học.

5/ Các chínhsách về chuyển giao công nghệ về hợp tác quốc tế.

a. Về chuyểngiao công nghệ:

Bộ Khoa học, Công nghệ và Môitrường cụ thể hoá Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam tronglĩnh vực phát triển công nghệ thông tin; chủ trì phối hợp với Uỷ ban Kế hoạchNhà nước, Bộ Công nghiệp nặng và Tổng cục Bưu điện xây dựng chương trình hợptác quốc tế cho việc phát triển công nghệ thông tin, trong đó có việc xây dựngcác dự án vay vốn nước ngoài cho phát triển công nghệ thông tin.

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì,phối hợp với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường xây dựng kế hoạch đào tạo cánbộ ở nước ngoài cho phát triển công nghệ thông tin, trong đó có các chủ trươngvà biện pháp cấp học bổng cho sinh viên đi học nước ngoài, thực tập và nghiên cứuở nước ngoài về những chuyên ngành và ở những trình độ cần thiết mà ta chưa đàotạo được.

Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước chịutrách nhiệm dành một phần quan trọng các chương trình viện trợ quốc tế, đặc biệtcác chương trình viện trợ ODA cho các dự án về đào tạo, nghiên cứu phát triểnvà ứng dụng công nghệ thông tin.

b. Mờichuyên gia cố vấn:

Để tranh thủ khả năng sử dụng cóhiệu quả các chuyên gia, cố vấn nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài, thựchiện chỉ thị nêu trong Nghị quyết 49/CP, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trườngphối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Việt kiều Trung ương xây dựng chínhsách khuyến khích mời các chuyên gia là người nước ngoài và chuyên gia là ngườiViệt Nam ở nước ngoài làm cố vấn hoặc tham gia thực hiện các dự án ứng dụng,các chương trình giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học, các kế hoạch xây dựngcơ sở cho công nghiệp công nghệ thông tin.

c. Khuyếnkhích đầu tư nước ngoài:

Để khuyến khích đầu tư từ nướcngoài về công nghệ thông tin, thực hiện chính sách cho các nhà đầu tư nướcngoài lập liên doanh hay lập công ty 100% vốn nước ngoài để sản xuất, cung cấpdịch vụ, cung cấp sản phẩm cả phần cứng và phần mềm về công nghệ thông tin vớicác chế độ ưu đãi nhất có thể được (theo Luật đầu tư nước ngoài) về thuế như miễngiảm thuế, giảm mức thuế lợi tức và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, ưu đãivề mức thuế đất và các khoản ưu đãi khác theo luật định. Bộ Khoa học, Công nghệvà Môi trường cùng với Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư xem xét và phê duyệtcác dự án đầu tư nước ngoài về công nghệ thông tin phù hợp với các chính sáchnói trên của Nhà nước về phát triển công nghệ thông tin.

6/ Các chínhsách hỗ trợ và huy động vốn cho phát triển công nghệ thông tin.

Cần huy động nhiều khả năng, nhiềunguồn vốn vào việc xây dựng và phát triển công nghệ thông tin. Trong giai đoạnđầu, Nhà nước cung cấp nguồn vốn đầu tư cho những chương trình, dự án chủ yếu.Trong những năm tiếp sau, sẽ huy động ngày càng nhiều hơn các nguồn vốn khác, đặtbiệt là các nguồn vốn từ các tổ chức sản xuất, kinh doanh thuộc các thành phầnkinh tế khác nhau. Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính,Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường xâydựng chính sách và kế hoạch hỗ trợ và huy động vốn cho phát triển công nghệthông tin theo các nguyên tắc sau:

- Nhà nước đầu tư và không thu hồivốn cấp cho việc thực hiện kế hoạch đưa công nghệ thông tin vào quản lý Nhà nướcvà an ninh, quốc phòng, các kế hoạch giáo dục, đào tạo và phổ biến kiến thức vềcông nghệ thông tin và một phần cho nghiên cứu khoa học và triển khai.

- Nhà nước tổ chức kinh doanh vàđầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng của công nghệ thông tin như hạ tầng cơ sởmáy tính - viễn thông, hạ tầng cơ sở của công nghiệp công nghệ thông tin. Nhànước sẽ đầu tư để xây dựng cơ sở vật chất ban đầu nhằm thu hút đầu tư nướcngoài vào các khu công nghệ cao, trong đó có công nghệ thông tin. Nhà nước cũngsẽ trực tiếp đầu tư hoặc liên doanh với nước ngoài để xây dựng và tổ chức triểnkhai một số trung tâm xử lý thông tin quốc gia.

- Khuyến khích các thành phầnkinh tế khác nhau tự đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động kinhdoanh, sản xuất và dịch vụ. Bộ Tài chính chủ trì với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước,Ngân hàng Nhà nước, Bộ Thương mại, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường nghiêncứu ban hành chính sách, chế độ khuyến khích các thành phần kinh tế tham giangày cành nhiều vào việc xây dựng, phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin.

Để thực hiện các chủ trương đó,kinh phí hàng năm của Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin được ghithành một hạng mục trong ngân sách Nhà nước và được xét duyệt hàng năm trong kếhoạch tài chính quốc gia.

7/ Chính sáchbảo vệ sở hữu trí tuệ và quyền tác giả.

Bảo vệ sở hữu trí tuệ và quyềntác giả trong lĩnh vực công nghệ thông tin, đặc biệt đối với các sản phẩm phầnmềm, là một yêu cầu cần được tôn trọng để tạo môi trường lành mạnh cho sự pháttriển nhanh ngành công nghệ thông tin ở nước ta.

Nghị quyết 49/CP đã nêu rõ Chínhphủ Việt Nam sẵn sàng tham gia các Điều ước quốc tế có liên quan đến chuyểngiao công nghệ về sở hữu công nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Nhà nướcta đã thông qua Pháp lệnh về bảo vệ quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ. Trêntinh thần đó, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp với Bộ Văn hoá -Thông tin chuẩn bị dự thảo để trình Chính phủ ban hành các quy định cụ thể vềviệc thực hiện Pháp lệnh đó trong lĩnh vực công nghệ thông tin.