BỘ CÔNG AN
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số:          /2016 /TT-BCA

Hà Nội, ngày    tháng     năm 2016

DỰ THẢO

 

 

THÔNG TƯ

QUY ĐỊNH QUY TRÌNH ĐIỀU TRA, GIẢI QUYẾT TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA CẢNH SÁT GIAO THÔNG

Căn cứ Luật Công an nhân dân năm 2014;

Căn cứ Luật Giao thông đường bộ năm 2008;

Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

Căn cứ Bộ luật hình sự năm 2015;

Căn cứ Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015;

Căn cứ Luật trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008;

Căn cứ Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông,

Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định về nguyên tắc, trình tự điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với:

1. Sĩ quan, hạ sĩ quan Cảnh sát giao thông (sau đây gọi tắt là cán bộ) làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ.

2. Công an các đơn vị, địa phương.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ.

Điều 3. Nguyên tắc điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ

1. Tuân thủ quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Bảo đảm nhanh chóng, kịp thời, chính xác, khách quan, toàn diện.

3. Thực hiện đúng thẩm quyền, nhiệm vụ được giao.

4. Bảo đảm thực hiện đúng quy chế dân chủ trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và Điều lệnh Công an nhân dân.

5. Nghiêm cấm lợi dụng nhiệm vụ được giao để tiêu cực, sách nhiễu, gây phiền hà, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Điều 4. Tiêu chuẩn của cán bộ làm nhiệm vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ

1. Có trình độ trung cấp Công an nhân dân hoặc tương đương trở lên. Đối với cán bộ được đào tạo ngoài ngành Công an thì phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Công an nhân dân.

2. Có thời gian công tác trong lực lượng Cảnh sát giao thông từ 01 năm trở lên.

3. Đã được tập huấn nghiệp vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông theo nội dung, chương trình tập huấn nghiệp vụ của Cục Cảnh sát giao thông và được Cục Cảnh sát giao thông cấp giấy chứng nhận đã hoàn thành lớp tập huấn nghiệp vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông.

Chương II

TRÌNH TỰ ĐIỀU TRA, GIẢI QUYẾT TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Mục 1. TRÌNH TỰ ĐIỀU TRA VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Điều 5. Những việc làm ngay khi đến hiện trường

Cán bộ làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ khi đến hiện trường cần thực hiện những công việc sau:

1. Tổ chức cấp cứu người bị nạn

a) Ghi nhận vị trí người bị nạn trước khi đưa đi cấp cứu; trường hợp sử dụng phương tiện giao thông liên quan đến vụ tai nạn để đưa người bị nạn đi cấp cứu thì phải sơ bộ ghi nhận vị trí của phương tiện, vị trí dấu vết trên phương tiện, tạm giữ giấy tờ của phương tiện và giấy tờ của người điều khiển phương tiện trước khi đưa người bị nạn đi cấp cứu.

b) Trường hợp người bị nạn đã chết thì phải đánh dấu vị trí, chụp ảnh, quay camera (nếu có) và che đậy người bị nạn; nếu người bị nạn đã chết ở vị trí gây ùn tắc giao thông thì sau khi đánh dấu vị trí, chụp ảnh, quay camera (nếu có) phải đưa người bị nạn vào lề đường, che đậy lại.

c) Trường hợp đến hiện trường mà người điều khiển phương tiện, người bị nạn đã được đưa đi cấp cứu thì phải nắm lại việc đưa người đi cấp cứu ở cơ sở y tế nào và cử ngay cán bộ vào cơ sở y tế đó để xác minh nhân thân của nạn nhân liên quan đến vụ tai nạn, xem xét ban đầu tình trạng thương tích, bệnh án để có hướng xử lý phù hợp.

2. Kiểm tra, tạm giữ giấy tờ của người và phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông; kiểm tra nồng độ cồn hoặc các chất kích thích khác của người điều khiển phương tiện gây tai nạn theo quy định tại Thông tư liên tịch số 26/2014/TTLT-BYT-BCA ngày 23/7/2014 quy định về xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Trường hợp phương tiện giao thông liên quan đến vụ tai nạn có thể gây ùn tắc giao thông thì ghi nhận vị trí của phương tiện, vị trí các dấu vết trên phương tiện rồi đưa phương tiện vào vị trí thích hợp để bảo vệ.

3. Khoanh vùng bảo vệ hiện trường (có thể sử dụng dây căng xung quanh hiện trường hoặc đặt cọc tiêu hình chóp nón, biển báo, hàng rào chắn quanh nơi xảy ra tai nạn), có biện pháp bảo vệ tài sản của người bị nạn, hàng hoá trên phương tiện trong vụ tai nạn.

4. Thu thập thông tin

a) Quan sát để phát hiện và ghi nhận sơ bộ các dấu vết, tang vật để lại trên hiện trường, trên các phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; ghi nhận những thay đổi ở hiện trường trong quá trình tổ chức cấp cứu người bị nạn.

b) Nắm tình hình, tìm những người biết thông tin về vụ tai nạn giao thông; ghi rõ họ tên, số chứng minh nhân dân, địa chỉ, số điện thoại (nếu có), đề nghị họ cung cấp thông tin về vụ tai nạn giao thông.

5. Tổ chức giao thông

a) Trường hợp hiện trường vụ tai nạn giao thông không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không nhiều đến việc lưu thông của người và phương tiện tham gia giao thông thì tổ chức hướng dẫn giao thông không để xảy ra ùn tắc.

b) Trường hợp hiện trường vụ tai nạn giao thông gây ùn tắc giao thông thì báo cáo lãnh đạo chỉ huy đơn vị của mình, lãnh đạo Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh nơi xảy ra tai nạn có phương án tăng cường lực lượng, phương tiện, phân luồng giao thông để giải quyết ùn tắc.

6. Trường hợp người gây tai nạn giao thông bỏ chạy thì thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều nàyĐiều 26 Thông tư này.

7. Khi đến hiện trường hoặc trong quá trình giải quyết vụ tai nạn giao thông theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Điều này, nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì thực hiện theo quy định tại Thông tư của Bộ Công an quy định về công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông của lực lượng Cảnh sát nhân dân.

8. Huy động, trưng dụng phương tiện

a) Trong trường hợp cấp bách để đưa người bị nạn đi cấp cứu, truy bắt người phạm tội, người gây tai nạn bỏ trốn, cứu hộ, cứu nạn, chữa cháy thì thực hiện quyền huy động phương tiện giao thông, phương tiện thông tin, phương tiện khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân và người đang điều khiển, sử dụng phương tiện đó. Việc huy động được thực hiện dưới hình thức đề nghị hoặc yêu cầu.

b) Việc trưng dụng phương tiện giao thông, phương tiện thông tin liên lạc, các phương tiện khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân được thực hiện theo quyết định của người có thẩm quyền và theo điều kiện, trình tự, thủ tục do Luật Công an nhân dân, Luật trưng mua, trưng dụng tài sản quy định.

c) Nghiêm cấm lợi dụng việc huy động, trưng dụng phương tiện để nhằm mục đích vụ lợi, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; nếu vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Điều 6. Chuẩn bị khám nghiệm hiện trường

1. Tiếp nhận các công việc của bộ phận bảo vệ hiện trường và nắm tình hình vụ tai nạn giao thông.

2. Mời người chứng kiến khám nghiệm.

3. Xác định phạm vi hiện trường; vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết; nhận định hiện trường còn nguyên vẹn hay đã bị xáo trộn.

4. Xác định phạm vi khám nghiệm, phương pháp khám nghiệm, điểm mốc để định vị vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.

5. Kiểm tra lại các thiết bị, phương tiện, công cụ phục vụ cho công tác khám nghiệm hiện trường.

Điều 7. Khám nghiệm hiện trường

1. Khám nghiệm nạn nhân, phương tiện giao thông, tang vật, dấu vết trên hiện trường.

2. Căn cứ vào vật chuẩn làm mốc ở hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn đánh dấu theo số tự nhiên thứ tự vị trí của nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết; sơ bộ ghi nhận các dấu vết liên quan đến tai nạn trên phương tiện.

Những dấu vết ở bên ngoài phương tiện dễ bị thay đổi hoặc biến dạng cần được thu lượm bảo quản ngay tại hiện trường như dấu vết máu, lông, tóc, sợi, xăng, dầu, các dấu vết hóa học hữu cơ khác.

3. Chụp ảnh, hiện trường chung, hiện trường từng phần, quay camera (nếu có); chụp ảnh nạn nhân, phương tiện, dấu vết, tang vật có liên quan.

4. Đo và vẽ sơ đồ hiện trường vụ tai nạn. Trong quá trình đo và vẽ sơ đồ hiện trường, sử dụng thống nhất kí hiệu, đơn vị đo và đo vẽ về một phía của đường.

5. Thu lượm dấu vết, tang vật, bảo quản và lấy mẫu so sánh theo đúng quy định của pháp luật.

6. Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông

Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông phải phù hợp với sơ đồ hiện trường quy định tại Khoản 4 Điều này. Nội dung biên bản phải ghi rõ, đầy đủ thời gian, địa điểm, thành phần tham gia khám nghiệm, người chứng kiến, hiện trường và quá trình khám nghiệm, điều kiện thời tiết, ánh sáng khi tiến hành khám nghiệm, tình trạng hiện trường trước khi khám nghiệm. Cụ thể như sau:

a) Mô tả hiện trạng của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn như: Đường một chiều hay đường hai chiều; dải phân cách; chiều rộng mặt đường, lề đường; hệ thống báo hiệu đường bộ; chướng ngại vật trên đường; đặc điểm, hình dạng đoạn đường (bằng phng hay dốc, thẳng hay cong, tầm nhìn bị che khuất hay không bị che khuất); mặt đường làm bằng bê tông xi măng, nhựa, đá răm, hay đất; tình trạng mặt đường (phẳng nhẵn hay “sống trâu”, “ổ gà”, nứt vỡ, trơn trượt…).

b) Đánh số thứ tự vị trí của nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.

c) Xác định điểm mốc nơi xảy ra tai nạn làm điểm chuẩn để mô tả nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết có liên quan.

d) Mô tả vị trí đặc điểm của nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết trên hiện trường theo số thứ tự.

đ) Ghi cụ thể số lượng phương tiện, tang vật, dấu vết đã phát hiện, thu lượm và các mẫu so sánh.

e) Ghi nhận quá trình vẽ sơ đồ hiện trường và chụp ảnh hiện trường, quay camera (nếu có).

7. Kết thúc khám nghiệm hiện trường

a) Rà soát lại những công việc đã thực hiện trong quá trình khám nghiệm.

b) Đánh giá sơ bộ dấu vết và các tài liệu thu thập được tại hiện trường để xác định tính liên quan của các dấu vết đã thu thập được hoặc cần phải thu thập thêm những dấu vết khác có liên quan.

c) Thông qua và ký biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn.

Điều 8. Tạm giữ tang vật, phương tiện giao thông và người điều khiển phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn giao thông

1. Tạm giữ tang vật, phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn giao thông

a) Việc tạm giữ tang vật, phương tiện giao thông và giải quyết tang vật, phương tiện giao thông bị tạm giữ thực hiện theo quy định tại Điều 125 và Điều 126 Luật xử lý vi phạm hành chính và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Khi khám nghiệm phương tiện giao thông xong, xác định người điều khiển phương tiện không có lỗi và không vi phạm các quy định khác của pháp luật thì phương tiện giao thông phải được trả ngay cho chủ sở hữu hoặc người điều khiển phương tiện. Nghiêm cấm việc giữ phương tiện giao thông của các bên liên quan đến vụ tai nạn giao thông để làm căn cứ giải quyết bồi thường thiệt hại.

b) Trường hợp vụ tai nạn có dấu hiệu tội phạm thì sau khi tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, lực lượng Cảnh sát giao thông chuyển phương tiện cùng hồ sơ vụ tai nạn cho Cơ quan Cảnh sát điều tra. Thời hạn tạm giữ phương tiện giao thông phục vụ cho việc điều tra, giải quyết thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Tạm giữ người điều khiển phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn giao thông theo thủ tục hành chính

Việc tạm giữ người điều khiển phương tiện giao thông phải được thực hiện theo đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản quy định chi tiết thi hành.

Điều 9. Khám nghiệm phương tiện giao thông liên quan đến vụ tai nạn giao thông

1. Các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông phải được tiến hành khám nghiệm tại hiện trường hoặc nơi tạm giữ phương tiện ngay sau khi khám nghiệm hiện trường; nếu có nhiều phương tiện giao thông thì tiến hành khám nghiệm và lập biên bản lần lượt từng phương tiện giao thông.

2. Kiểm tra toàn bộ giấy tờ của phương tiện giao thông, giấy tờ của người điều khiển phương tiện giao thông vi phạm hoặc có liên quan đến vụ tai nạn như: Đăng ký xe (đối chiếu với biển số, số khung, số máy), sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (đối với loại phương tiện quy định phải có), giấy phép lái xe, giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe cơ giới và các loại giấy tờ có liên quan đến hàng hóa vận chuyển trên phương tiện.

3. Khám nghiệm ô tô và các loại xe tương tự ô tô được tiến hành từ bên ngoài vào bên trong, từ trước ra sau, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới kể cả gầm xe. Đặt thước tỉ lệ và chụp ảnh (quay camera nếu xét thấy cần thiết).

4. Khám nghiệm xe mô tô, xe máy được tiến hành bên ngoài xe, từ trước ra sau, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới. Đặt thước tỉ lệ và chụp ảnh (quay camera nếu xét thấy cần thiết).

5. Lập biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông liên quan đến vụ tai nạn giao thông. Khi lập biên bản phải ghi phần dấu vết riêng, phần thiệt hại riêng.

6. Thông qua và ký biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông liên quan vụ tai nạn giao thông.

Điều 10. Ghi lời khai của những người điều khiển phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn giao thông

Việc ghi lời khai của người điều khiển phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn giao thông phải lập biên bản. Biên bản phải ghingày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người điều khiển phương tiện; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra tai nạn, mật độ giao thông; vị trí của phương tiện giao thông trên mặt đường, hướng chuyển động, tốc độ, các thao tác kỹ thuật, nhận biết của người điều khiển phương tiện giao thông trước khi vụ tai nạn xảy ra và việc xử lý của họ như thế nào trước, trong và sau khi vụ tai nạn xảy ra; lời khai của người điều khiển phương tiện.

Điều 11. Ghi lời khai của người bị nạn và người có liên quan khác trong vụ tai nạn giao thông

1. Việc ghi lời khai của người bị nạn và người có liên quan khác trong vụ tai nạn giao thông phải lập biên bản. Biên bản phải ghingày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người điều khiển phương tiện; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra tai nạn, mật độ giao thông; lời khai của người bị nạn, người có liên quan. Nội dung lời khai làm rõ về diễn biến, nguyên nhân vụ tai nạn, thương tích trên người do vụ tai nạn gây ra.

2. Trường hợp người bị thương nặng thì chỉ lấy lời khai khi được nhân viên y tế điều trị và người đó đồng ý; cần đặt câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng.

Nếu người bị nạn có thể tử vong thì phải lấy lời khai ngay. Trường hợp người bị nạn do bị thương nặng không thể nói được thì phải lập biên bản về việc đó và có xác nhận của nhân viên y tế điều trị.

Điều 12. Ghi lời khai của những người làm chứng

1. Việc ghi lời khai của người làm chứng phải lập biên bản. Biên bản phải ghingày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người làm chứng; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra tai nạn, mật độ giao thông; lời khai của người làm chứng. Nội dung lời khai phải làm rõ những vấn đề sau đây:

a) Xác định năng lực hành vi của người làm chứng, mối quan hệ của người làm chứng với người điều khiển phương tiện và những người có liên quan trong vụ tai nạn.

b) Vị trí của người làm chứng (hướng nhìn, tầm nhìn xa, khoảng cách giữa người làm chứng đến nơi xảy ra tai nạn), thời tiết, ánh sáng khi xảy ra tai nạn họ có chú ý đến sự việc hay không, do đâu mà họ biết về vụ tai nạn.

c) Hướng chuyển động của các bên liên quan đến vụ tai nạn (người và phương tiện).

d) Phần đường và tốc độ, thao tác xử lý của người điều khiển phương tiện trước, trong và sau khi xảy ra tai nạn, những tiếng động do va chạm giữa các phương tiện giao thông.

đ) Phản ứng của những người có liên quan trước khi xảy ra tai nạn.

e) Vị trí của các phương tiện, người, tang vật sau khi xảy ra tai nạn, vị trí đó có bị thay đổi không, nếu có thay đổi, xê dịch thì ai làm điều đó, vì sao?

g) Trạng thái tâm lý của người gây tai nạn biểu hiện ra bên ngoài (ảnh hưởng của chất kích thích rượu, bia, tình trạng sức khoẻ, ...).

h) Các yếu tố khác có liên quan đến vụ tai nạn giao thông mà họ biết, còn ai biết về vụ tai nạn xảy ra.

2. Tổ chức cho người làm chứng thực nghiệm để xác định tính khách quan, xác thực về lời khai khi thấy cần thiết.

3. Trường hợp chưa thể ghi lời khai của người làm chứng ngay tại hiện trường thì cán bộ ghi lời khai phải ghi lại thông tin về nơi thường trú, công tác, học tập, số điện thoại liên lạc… của người làm chứng, sau đó đến nơi ở, nơi làm việc của người làm chứng hoặc mời người đó đến trụ sở Công an cấp huyện (nơi xảy ra tai nạn) để lấy lời khai. Đối với người dưới 18 tuổi, khi ghi lời khai phải mời người giám hộ (cha, mẹ, người đại diện hợp pháp hoặc thầy giáo, cô giáo) của người đó tham dự và ký tên vào biên bản.

4. Trường hợp vụ tai nạn giao thông có nhiều người làm chứng thì lấy lời khai của từng người; trường hợp qua điều tra ban đầu xác định không có người làm chứng thì cán bộ được giao điều tra, giải quyết tai nạn giao thông phải báo cáo lãnh đạo đơn vị bằng văn bản.

Điều 13. Một số hoạt động khác thu thập tài liệu liên quan đến vụ tai nạn giao thông

Ngoài việc thực hiện quy định tại các điều từ Điều 5 đến Điều 12, thì tùy theo tính chất, mức độ của từng vụ tai nạn giao thông, khi điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông cơ quan Công an phải tiến hành một số hoạt động điều tra sau đây:

1. Ghi nhận dấu vết trên người bị nạn

a) Việc ghi nhận dấu vết trên thân thể người bị nạn phải được xem xét tỉ mỉ trên quần áo, mũ, nón (mô tả chi tiết trong biên bản, chụp ảnh), có người cùng giới chứng kiến; nếu là nạn nhân nữ khi khám dấu vết thương tích để lại do tai nạn giao thông ở vùng đầu và tứ chi thì khám dấu vết thương tích bình thường, còn nếu ở vùng nhạy cảm (ngực, bụng hay vùng kín) thì cử cán bộ nữ tham gia khám dấu vết thương tích.

b) Nếu nạn nhân đi cấp cứu không tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể được thì cán bộ điều tra, giải quyết vụ tai nạn phải thu thập giấy chứng nhận thương tích, hồ sơ bệnh án điều trị chấn thương do vụ tai nạn gây ra. Nếu thấy cần thiết thì đề nghị trưng cầu giám định thương tật.

c) Nghiêm cấm lợi dụng việc xem xét dấu vết trên thân thể người bị nạn để xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm hoặc sức khỏe của người bị nạn. Nhận định ban đầu về tỉ lệ phần trăm thương tật của người bị nạn.

2. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật cầu, đường liên quan đến vụ tai nạn giao thông.

a) Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của cầu

- Đo chiều dài, bề rộng mặt cầu; chiều dài nhịp, số nhịp, số trụ cầu… so với chỉ tiêu kỹ thuật cầu.

- Mô tả, ghi nhận hệ thống báo hiệu đường bộ: Biển báo, vạch kẻ đường, cọc tiêu… trên cầu và hai đầu cầu.

- Mô tả, ghi nhận vết nứt, vỡ, hư hỏng… trên cầu nơi xảy ra tai nạn.

- Kiểm tra, xem xét dấu vết do tai nạn để lại trên mặt cầu, thành cầu.

b) Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của đường

- Xác định bán kính đường cong, độ siêu cao, độ dốc dọc của đoạn đường;

- Xác định tầm nhìn nhỏ nhất theo chiều dọc (nếu có độ dốc dọc lớn), tầm nhìn theo chiều ngang;

- Một số chỉ tiêu kỹ thuật thực tế so với thiết kế đường;

- Ghi nhận các dấu vết của vụ tai nạn để lại trên đường.

c) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật cầu, đường phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.

3. Dựng lại hiện trường

a) Trong quá trình điều tra vụ tai nạn giao thông nếu có căn cứ xác định hiện trường bị xáo trộn, hiện trường giả hoặc xét thấy cần thiết cho việc điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông thì tổ chức dựng lại hiện trường vụ tai nạn. Việc dựng lại hiện trường phải có quyết định của người có thẩm quyền.

Trước khi dựng lại hiện trường phải có kế hoạch cụ thể và được thủ trưởng đơn vị phê duyệt; phải có người chứng kiến, mời đại diện Viện Kiểm sát và người liên quan cùng tham gia.

b) Nội dung dựng lại hiện trường cần xác định lại vị trí người bị nạn, phương tiện, tang vật, dấu vết để lại ở hiện trường, xem xét lại những tình huống, hành vi và những tình tiết khi xảy ra vụ tai nạn giao thông; đo đạc và vẽ lại sơ đồ hiện trường; chụp ảnh để làm cơ sở so sánh đối chiếu.

c) Kết thúc việc dựng lại hiện trường vụ tai nạn phải lập biên bản theo quy định, những người tham gia dựng lại hiện trường ký, ghi rõ họ, tên vào biên bản.

4. Giám  định chuyên môn

a) Trường hợp cần giám định thương tật người bị nạn hoặc giám định dấu vết, giám định chuyên môn kỹ thuật phương tiện, cầu, đường, phà, thì cán bộ được phân công điều tra, giải quyết báo cáo lãnh đạo cấp có thẩm quyền để yêu cầu cơ quan giám định tiến hành giám định theo quy định của pháp luật.

b) Trường hợp người bị nạn từ chối việc giám định thương tật thì phải lập biên bản ghi rõ lý do từ chối, có xác nhận của họ hoặc người chứng kiến.

Mục 2. GIẢI QUYẾT VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Điều 14. Xem xét kết quả điều tra và quyết định việc giải quyết vụ tai nạn giao thông

1. Căn cứ vào hồ sơ, tài liệu hoạt động điều tra, cán bộ được phân công điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông phải báo cáo về kết quả điều tra và đề xuất việc giải quyết vụ tai nạn đó bằng văn bản, trình Trưởng Công an cấp huyện (đối với vụ tai nạn giao thông do Công an cấp huyện thụ lý), Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh (đối với vụ tai nạn giao thông do Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh thụ lý), Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông (đối với vụ tai nạn giao thông do Cục Cảnh sát giao thông thụ lý) để giải quyết vụ tai nạn giao thông:

a) Trường hợp xác định vụ tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm thì hoàn chỉnh hồ sơ, giải quyết vụ tai nạn giao thông theo thủ tục hành chính quy định tại Điều 15 Thông tư này.

b) Trường hợp xác định vụ tai nạn giao thông có dấu hiệu tội phạm thì chuyển giao hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra, giải quyết theo quy định.

c) Trường hợp vụ tai nạn giao thông liên quan đến người, phương tiện của Quân đội nhân dân thì thực hiện theo quy định tại Thông tư của Bộ Công an quy định về công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông của lực lượng Cảnh sát nhân dân và Điều 24 thông tư này.

2. Việc bàn giao hồ sơ cùng đồ vật, mẫu vật, phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông giữa lực lượng Cảnh sát giao thông với Cơ quan điều tra Công an, Quân đội phải được lập biên bản. Hồ sơ bàn giao phải phô tô để lưu giữ tại đơn vị.

3. Cơ quan Cảnh sát giao thông phải tiến hành xem xét, điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông; đối với vụ tai nạn giao thông có nhiều tình tiết phức tạp cần điều tra, xác minh thì thời hạn có thể được kéo dài nhưng không quá 30 ngày. Trường hợp phải thông qua giám định chuyên môn hoặc cần phải có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

Điều 15. Giải quyết vụ tai nạn giao thông đường bộ theo thủ tục hành chính

Cán bộ được phân công điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông tiến hành các công việc sau:

1. Mời các bên liên quan hoặc đại diện hợp pháp của họ đến trụ sở đơn vị để thông báo kết quả điều tra, kết luận nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông, xác định lỗi của những người có liên quan trong vụ tai nạn giao thông và hình thức giải quyết. Các bên liên quan trình bày ý kiến của họ, mọi ý kiến phải được ghi vào biên bản giải quyết và có chữ ký của các bên liên quan trong vụ tai nạn giao thông.

Trường hợp một trong các bên liên quan đến vụ tai nạn giao thông vắng mặt có lý do chính đáng, thì phải lập biên bản ghi nhận việc vắng mặt và hẹn ngày khác đến giải quyết.

2. Thực hiện theo Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, ra quyết định hoặc đề xuất người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người có hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

3. Sau khi người bị xử phạt thực hiện xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính, lập biên bản trả lại phương tiện, đồ vật và các giấy tờ đã tạm giữ cho người bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; thu biên lai tiền phạt ghim vào góc trên bên trái quyết định xử phạt, lưu trong hồ sơ vụ tai nạn giao thông.

4. Giải quyết việc khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại giữa các bên liên quan trong vụ tai nạn giao thông khi các bên có yêu cầu đòi bồi thường

a) Trường hợp các bên liên quan tự thoả thuận khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại thì phải có bản cam kết thống nhất thoả thuận về mức và hình thức bồi thường thiệt hại giữa các bên; ký và ghi rõ họ, tên những người liên quan. Người gây tai nạn tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại được xem là tình tiết giảm nhẹ khi ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

b) Trường hợp các bên liên quan trong vụ tai nạn giao thông không tự thoả thuận khắc phục hậu quả được thì Cảnh sát giao thông có trách nhiệm hướng dẫn các bên liên hệ với cơ quan Tòa án cùng cấp để giải quyết theo thủ tục dân sự.

Điều 16. Kết thúc điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông

1. Đối với vụ tai nạn do Cơ quan Cảnh sát điều tra giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, Cơ quan Cảnh sát điều tra phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ tai nạn và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến cơ quan Cảnh sát giao thông để làm thủ tục xử phạt vi phạm hành chính. Việc xử phạt vi phạm hành chính được căn cứ vào hồ sơ vụ tai nạn do Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển đến.

2. Nếu phát hiện quá trình điều tra vụ tai nạn còn bỏ sót lỗi vi phạm hành chính thì Cảnh sát giao thông đề xuất thủ trưởng đơn vị tiến hành xác minh thêm tình tiết để làm căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

3. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 30 ngày, kể từ ngày nhận được các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này kèm theo hồ sơ vụ vi phạm. Trong trường hợp cần xác minh thêm được quy định tại khoản 2 Điều này thì thời hạn tối đa không quá 45 ngày.

4. Sau khi hoàn thành việc điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông, đơn vị thụ lý điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông phải hoàn chỉnh hồ sơ kết thúc việc điều tra; thực hiện thống kê, báo cáo tai nạn giao thông theo quy định tại Điều 20 của Thông tư này; tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm việc điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông.

Điều 17. Mở sổ theo dõi tai nạn giao thông và đăng ký lưu hồ sơ

1. Đơn vị thụ lý điều tra giải quyết tai nạn giao thông phải mở Sổ thụ lý vụ tai nạn giao thông.

2. Sthụ lý vụ tai nạn giao thông quy định tại khoản 1 Điều này và hồ sơ vụ tai nạn giao thông phải được đăng ký lưu giữ, bảo quản, khai thác theo quy định tại chế độ công tác hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát của Bộ Công an.

Điều 18. Các biểu mẫu sử dụng trong công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ

1. Sổ thụ lý vụ tai nạn giao thông (mẫu số 01/ĐTTN).

2. Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông (mẫu số 02/ĐTTN).

3. Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông (mẫu số 03/ĐTTN).

4. Biên bản tạm giữ phương tiện, tang vật liên quan đến vụ tai nạn giao thông (mẫu số 04/ĐTTN, kèm phụ lục khám nghiệm phương tiện theo mẫu 4a, 4b)

5. Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông (mẫu số 05/ĐTTN).

6. Biên bản ghi lời khai (mẫu số 06/ĐTTN).

7. Biên bản ghi nhận dấu vết trên thân thể người bị nạn (mẫu số 7a/ĐTTN) nếu có; Sơ đồ vị trí dấu vết thương tích trên cơ thể người bị nạn (mẫu 7b/ĐTTN) nếu có.

8. Biên bản xác định chỉ tiêu kỹ thuật cầu, đường liên quan đến vụ tai nạn giao thông (mẫu số 08/ĐTTN).

9. Biên bản giao nhận hồ sơ (mẫu số 09/ĐTTN).

10. Biên bản giải quyết vụ tai nạn giao thông (mẫu số 10/ĐTTN).

11. Biên bản giao trả phương tiện, tang vật liên quan đến vụ tai nạn giao thông (mẫu số 11/ĐTTN).

12. Quyết định tạm giữ phương tiện, tang vật liên quan đến vụ tai nạn giao thông (mẫu số 12/ĐTTN)

13. Báo cáo đề xuất giải quyết vụ tai nạn giao thông (mẫu số 13/ĐTTN)

14. Bản kết luận điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông (mẫu số 14/ĐTTN).

15. Phiếu yêu cầu xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ban hành kèm theo Thông tư số 26/2014/TTLT-BYT-BCA ngày 23/7/2014 của Bộ Y tế, Bộ Công an (mẫu số 01, 02/TTLT-BYT-BCA) nếu có.

16. Phiếu kiểm tra kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ban hành kèm theo Thông tư số 26/2014/TTLT-BYT-BCA ngày 23/7/2014 của Bộ Y tế, Bộ Công an (mẫu số 03/TTLT-BYT-BCA) nếu có.

Điều 19. Hồ sơ và sắp xếp hồ sơ vụ tai nạn giao thông

1. Hồ sơ xử lý vi phạm hành chính (ký hiệu XL) sắp xếp theo nhóm tài liệu và trong từng nhóm sắp xếp theo thời gian, trình tự như sau:

a) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, Quyết định hủy bỏ Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định đình chỉ vụ án hình sự, Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự và các quyết định khác (nếu có).

b) Biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản xác định chỉ tiêu kỹ thuật cầu, đường liên quan đến vụ tai nạn; sơ đồ hiện trường; bản ảnh; băng ghi hình (nếu có).

c) Biên bản khám nghiệm phương tiện; quyết định tạm giữ phương tiện, tang vật liên quan đến vụ tai nạn giao thông; biên bản tạm giữ phương tiện, tang vật liên quan đến vụ tai nạn giao thông; biên bản giao trả phương tiện, đồ vật liên quan đến vụ tai nạn giao thông.

d) Biên bản ghi lời khai những người có liên quan trong vụ tai nạn gồm: Biên bản ghi lời khai người điều khiển phương tiện, biên bản ghi lời khai người bị nạn, biên bản ghi lời khai người có liên quan khác đến vụ tai nạn giao thông, biên bản ghi lời khai người làm chứng, người biết việc (nếu có nhiều người và mỗi người lại có nhiều biên bản thì sắp xếp theo từng người và theo thời gian);

đ) Biên bản ghi nhận dấu vết trên thân thể người bị nạn và sơ đồ vị trí dấu vết thương tích trên cơ thể người bị nạn; phiếu yêu cầu, phiếu kiểm tra kết quả xét nghiệm nồng độ cồn, chất kích thích trong máu (nếu có); biên bản về việc dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông (nếu có).

e) Tài liệu chứng minh thiệt hại về người (giấy chứng thương, đơn thuốc), tài sản và các tài liệu khác có liên quan (nếu có).

g) Báo cáo đề xuất giải quyết vụ tai nạn giao thông.

h) Các tài liệu về thỏa thuận bồi thường thiệt hại.

i) Bản kết luận điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông.

k) Biên bản giải quyết vụ tai nạn giao thông.

l) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, biên lai thu tiền phạt.

2. Hồ sơ vụ tai nạn giao thông chuyển cho Cảnh sát điều tra, gồm:

a) Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, băng ghi hình (nếu có).

b) Biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản tạm giữ phương tiện, quyết định tạm giữ phương tiện, các giấy tờ của người điều khiển phương tiện và hàng hóa trên phương tiện (nếu có).

c) Biên bản ghi lời khai những người có liên quan trong vụ tai nạn gồm: Biên bản ghi lời khai người điều khiển phương tiện, biên bản ghi lời khai người bị nạn, biên bản ghi lời khai người có liên quan khác trong vụ tai nạn giao thông, biên bản ghi lời khai người làm chứng, người biết việc.

d) Biên bản ghi nhận dấu vết trên thân thể người bị nạn sơ đồ vị trí dấu vết thương tích trên cơ thể người bị nạn; biên bản về việc dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông (nếu có).

đ) Tài liệu chứng minh thiệt hại về người và tài sản, các tài liệu khác có liên quan (nếu có).

e) Quyết định khởi tố vụ án hình sự (nếu có) “đối với hồ sơ do Cục CSGT điều tra thụ lý ban đầu”.

f) Biên bản bàn giao hồ sơ.

Điều 20. Chế độ thông tin báo cáo thống kê, tổng hợp; xây dựng cơ sở dữ liệu tai nạn giao thông đường bộ

1. Các đơn vị Cảnh sát giao thông Công an các cấp phải thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo thống kê, tổng hợp và xây dựng cơ sở dữ liệu tai nạn giao thông đường bộ theo quy định của Bộ Công an.

2. Những vụ tai nạn giao thông do Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành điều tra, giải quyết thì sau khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, mà không có dấu hiệu vi phạm hành chính, phải gửi Cảnh sát giao thông bản kết luận điều tra và các thông tin cần thiết để Cảnh sát giao thông thống kê, tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu tai nạn giao thông đường bộ theo quy định.

3. Kết thúc điều tra, giải quyết tai nạn giao thông, cán bộ Cảnh sát giao thông được giao thụ lý điều tra, giải quyết tai nạn phải viết báo cáo vụ tai nạn giao thông xảy ra trên địa bàn phụ trách theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư của Bộ Công an quy định và hướng dẫn thống kê, tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu, cung cấp thông tin về tai nạn giao thông đường bộ và tiến hành nhập máy tính những thông tin vụ tai nạn giao thông để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tai nạn giao thông đường bộ phục vụ việc thống kê, phân tích và đề ra các giải pháp phòng ngừa tai nạn giao thông.

Chương III

MỘT SỐ TÌNH HUỐNG CỤ THỂ TRONG ĐIỀU TRA, GIẢI QUYẾT TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Điều 21. Trường hợp tai nạn giao thông liên quan đến người và phương tiện giao thông đường bộ của nước ngoài

1. Khi xảy ra vụ tai nạn giao thông liên quan đến người và phương tiện giao thông đường bộ của nước ngoài, thì thực hiện theo Chương II Thông tư này; đồng thời, áp dụng Thông tư liên ngành số 01/TTLN-KS-NV-TP-NG ngày 08/9/1988 của ViệnKiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao hướng dẫn việc điều tra, xử lý các vụ vi phạm luật lệ giao thông đường bộ do người, phương tiện giao thông nước ngoài gây ra hoặc áp dụng theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.

2. Cùng với việc tổ chức khám nghiệm hiện trường, các hoạt động ban đầu của cơ quan Công an phải xác định tư cách pháp lý của người nước ngoài, quy chế pháp lý của phương tiện gây tai nạn, người bị nạn và tổn thất về tài sản... Cơ quan Công an có quyền yêu cầu người gây tai nạn phải xuất trình các giấy tờ tùy thân cần thiết và yêu cầu họ ký vào các biên bản điều tra tại hiện trường, trường hợp họ không ký thì ghi vào biên bản và có người chứng kiến.

a) Người có thân phận ngoại giao được quy định tại Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam thì việc tiếp nhận lời khai của họ với tư cách là nhân chứng chỉ được tiến hành với sự đồng ý rõ ràng của người đó. Nếu những yêu cầu nói trên bị từ chối thì cũng phải ghi rõ vào biên bản.

b) Việc lấy lời khai người nước ngoài được tiến hành theo các thủ tục thông thường tại trụ sở cơ quan Công an. Người nước ngoài có thể tự chọn phiên dịch hoặc Cơ quan Công an có thể mời người phiên dịch. Trong trường hợp viên chức ngoại giao hoặc Lãnh sự chấp thuận làm nhân chứng thì việc tiếp nhận bản khai hoặc lấy lời khai của họ có thể được tiến hành tại nơi thuận tiện cho họ và họ đồng ý.

c) Đối với người nước ngoài không có thân phận ngoại giao (chuyên gia, các nhà kinh doanh, học sinh, thực tập sinh, khách du lịch tại Việt Nam...) có liên quan đến vụ tai nạn giao thông thì việc điều tra, giải quyết như đối với công dân Việt Nam. Tuy nhiên, khi xét thấy cần thiết phải tạm giữ người thì phải báo cáo Giám đốc Công an cấp tỉnh (nếu lực lượng điều tra, giải quyết vụ tai nạn thuộc Cục Cảnh sát giao thông thì báo cáo cho Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông) để trao đổi với cơ quan ngoại vụ thống nhất giải quyết.

d) Những khó khăn trở ngại trong quá trình điều tra vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng liên quan đến cá nhân thuộc cơ quan đại diện nước ngoài đều được thống nhất phối hợp giữa các cơ quan: Công an, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan ngoại vụ cấp tỉnh thống nhất chỉ đạo biện pháp giải quyết; đồng thời, báo cáo lên cấp trên theo ngành dọc (Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao) để xin ý kiến giải quyết tiếp.

Điều 22. Tai nạn giao thông liên quan đến cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước

1. Trường hợp vụ tai nạn giao thông liên quan đến cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước xảy ra, thì giải quyết như sau:

a) Nếu phương tiện giao thông của cán bộ cao cấp đó vẫn hoạt động được, đủ điều kiện tham gia giao thông thì lập biên bản về vụ tai nạn, ghi biển số xe, giấy đăng ký xe, giấy phép lái xe của người điều khiển phương tiện, đánh dấu vị trí phương tiện, ghi nhận vị trí các dấu vết trên phương tiện, chụp ảnh hiện trường, quay camera (nếu có) và yêu cầu người điều khiển phương tiện ký xác nhận vào biên bản rồi giải quyết cho đi; định thời gian yêu cầu người điều khiển phương tiện đến trụ sở cơ quan Công an để giải quyết.

b) Nếu phương tiện giao thông của cán bộ cao cấp đó không đủ điều kiện tham gia giao thông thì phải giải quyết cho cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước đến địa điểm an toàn hoặc đến nơi cần thiết theo yêu cầu của cán bộ đó. Trường hợp cán bộ đó trực tiếp điều khiển phương tiện tham gia giao thông thì trước khi giải quyết cho đi phải lập biên bản về vụ tai nạn, ghi biển số xe, giấy đăng ký xe, giấy phép lái xe, đánh dấu vị trí phương tiện, ghi nhận vị trí các dấu vết trên phương tiện, chụp ảnh hiện trường, quay camera (nếu có) và yêu cầu người điều khiển phương tiện ký xác nhận vào biên bản; định thời gian yêu cầu cán bộ đó đến trụ sở cơ quan Công an để giải quyết.

c) Sau khi thực hiện xong các quy định tại điểm a, điểm b khoản này, tiến hành điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông theo quy định tại Chương II Thông tư này.

2. Trường hợp vụ tai nạn giao thông liên quan đến cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước xảy ra mà cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước bị thương hoặc chết thì giải quyết theo quy định tại Chương II Thông tư này.

3. Các vụ tai nạn giao thông liên quan đến cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước xảy ra, cơ quan thụ lý điều tra, giải quyết phải báo cáo Công an cấp tỉnh và Bộ Công an theo quy định.

Điều 23. Tai nạn giao thông liên quan đến các phương tiện giao thông được quyền ưu tiên

Phương tiện giao thông được quyền ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp, nếu xảy ra tai nạn mà người điều khiển phương tiện không bị thương, phương tiện vẫn tiếp tục hoạt động được thì lập biên bản tạm giữ các giấy tờ có liên quan, ghi lại biển số phương tiện, họ, tên, đơn vị công tác của người điều khiển phương tiện; đánh dấu vị trí của phương tiện giao thông, sơ bộ ghi nhận và chụp ảnh các dấu vết trên phương tiện rồi cho họ tiếp tục sử dụng phương tiện đi làm nhiệm vụ. Định thời gian sau khi hoàn thành nhiệm vụ thì người điều khiển đưa phương tiện liên quan đến vụ tai nạn về Cơ quan Công an để phục vụ điều tra, giải quyết theo quy định tại Chương II Thông tư này.

Trường hợp người điều khiển bị thương hoặc chết, phương tiện không còn hoạt động được thì cứ tiến hành các hoạt động điều tra, giải quyết tai nạn giao thông theo quy định tại Chương II Thông tư này.

Điều 24. Tai nạn giao thông đường bộ liên quan đến người, phương tiện của Quân đội nhân dân

1. Đối với vụ va chạm giao thông có liên quan đến người, phương tiện của Quân đội nhân dân thì lực lượng Cảnh sát giao thông điều tra, giải quyết và xử lý theo quy định của pháp luật; đồng thời, thông báo cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền của Quân đội nhân dân biết.

2. Đối với những vụ tai nạn giao thông đường bộ liên quan đến người, phương tiện của Quân đội nhân dân phải qua công tác điều tra mới xác định được tính chất, mức độ của vụ tai nạn thì lực lượng Cảnh sát giao thông tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, lấy lời khai những người có liên quan trong vụ tai nạn giao thông…theo quy định của Thông tư này; đồng thời, thông báo cho Cơ quan điều tra hình sự Quân đội nhân dân có thẩm quyền để phối hợp thực hiện các hoạt động điều tra ban đầu.

a) Trường hợp xác định vụ tai nạn giao thông có dấu hiệu tội phạm thì lực lượng Cảnh sát giao thông bàn giao toàn bộ hồ sơ, tài liệu, phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ cho Cơ quan điều tra hình sự Quân đội nhân dân theo thẩm quyền để giải quyết. Sau khi bàn giao cho Cơ quan điều tra hình sự của Quân đội nhân dân, lực lượng Cảnh sát giao thông có trách nhiệm tiếp tục phối hợp theo đề nghị của Cơ quan điều tra hình sự Quân đội nhân dân.

b) Trường hợp xác định vụ tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm, thì lực lượng Cảnh sát giao thông hoàn chỉnh hồ sơ để xử lý hành chính theo quy định tại Điều 15 Thông tư này.

Điều 25. Trường hợp người gây tai nạn giao thông lái xe bỏ chạy

1. Lực lượng Cảnh sát giao thông được phân công điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông mà người gây tai nạn bỏ chạy phải nhanh chóng đến hiện trường thu thập các dấu vết, vật chứng tại hiện trường; ghi lời khai của những người biết việc, người bị nạn; hỏi kỹ về đặc điểm người gây tai nạn bỏ chạy; hỏi rõ loại xe, màu sơn, biển số..., đặc biệt là vị trí của những phương tiện, những thiệt hại về phương tiện và hướng phương tiện bỏ chạy. Đối chiếu, xác định những dấu vết có thể hình thành trong quá trình va chạm.

2. Căn cứ đặc điểm phương tiện bỏ chạy, các dấu vết có thể để lại trên phương tiện để tổ chức truy tìm người, phương tiện gây tai nạn, đồng thời thông báo cho các Đội, Trạm Cảnh sát giao thông trên tuyến phối hợp truy bắt.

3. Tổ chức điều tra, giải quyết theo quy định tại Chương II Thông tư này. Quá trình điều tra xác định có dấu hiệu tội phạm, thì báo cáo lãnh đạo để chuyển giao hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền để điều tra, giải quyết theo quy định; đồng thời, tiếp tục phối hợp truy tìm.

Điều 26. Tai nạn cháy, nổ phương tiện giao thông đường bộ

Khi các phương tiện giao thông bị cháy, nổ thì Cảnh sát giao thông phải thông báo ngay cho Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ đến giải quyết; đồng thời, tổ chức phân luồng giao thông, cấm người và phương tiện đi vào khu vực có cháy, nổ. Cảnh sát giao thông có trách nhiệm phối hợp và giữ gìn trật tự giao thông ở khu vực hiện trường vụ tai nạn.

Điều 27. Tai nạn giao thông liên quan trực tiếp đến phương tiện giao thông chở hoá chất độc hại

Khi xảy ra vụ tai nạn giao thông mà phương tiện tham gia giao thông vận chuyển chất độc hại thì Cảnh sát giao thông phải tiến hành phong tỏa nơi xảy ra tai nạn giao thông trong một khu vực cần thiết và đặt các biển báo hiệu, cấm người và các phương tiện đi vào. Đồng thời, báo cáo ngay Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (nếu lực lượng điều tra, giải quyết vụ tai nạn thuộc Cục Cảnh sát giao thông thì báo cáo cho Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông) chỉ đạo và cơ quan hữu quan phối hợp giải quyết.

Điều 28. Những vụ tai nạn giao thông dẫn đến hành vi gây rối trật tự công cộng

1. Trường hợp vụ tai nạn giao thông có thân nhân của người bị nạn hoặc những phần tử quá khích đòi yêu sách, hành hung người gây tai nạn, ngăn đường làm cản trở giao thông ở mức độ chưa nghiêm trọng thì chủ động giải thích, phân hoá đối tượng, giải tán đám đông không để xảy ra phức tạp.

2. Trường hợp xảy ra các hành vi gây rối nghiêm trọng thì phải tìm mọi cách báo cáo lãnh đạo Công an cấp huyện, đề nghị chính quyền và các lực lượng khác của địa phương tăng cường hỗ trợ; đồng thời, bảo vệ hiện trường, phương tiện và người điều khiển phương tiện; bảo toàn lực lượng và tiếp tục nắm tình hình phục vụ cho công tác điều tra, giải quyết.

3. Tổ chức điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông theo quy định tại Chương II Thông tư này.

Điều 29. Trường hợp người bị nạn từ chối, không đi cấp cứu

1. Cán bộ làm nhiệm vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông hoặc nhân viên y tế có mặt đưa người bị nạn đi cấp cứu mà người bị nạn từ chối thì cán bộ làm nhiệm vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông phải lập biên bản ghi nhận việc người bị nạn từ chối đi cấp cứu, có sự xác nhận của nhân viên y tế, người chứng kiến.

2. Nếu chỉ có cán bộ làm nhiệm vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đưa người bị nạn đi cấp cứu mà người bị nạn từ chối thì phải lập biên bản ghi nhận việc người bị nạn từ chối đi cấp cứu, có người chứng kiến xác nhận.

Chương IV

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 30.  Hiệu lực thi hành

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể ngày ...tháng ...năm 2016. Các quy định trước đây của Bộ Công an về tuần tra, kiểm soát, điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông trái với Thông tư này đều bãi bỏ.

Điều 31. Trách nhiệm thi hành

1. Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Công an thực hiện:

a) Chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc Công an các đơn vị địa phương triển khai, thực hiện Thông tư này.

b) Biên soạn tài liệu tập huấn nghiệp vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ.

c) Tổ chức tập huấn và cấp giấy chứng nhận nghiệp vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ cho cán bộ thuộc Cục cảnh sát giao thông và lãnh đạo Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh, lãnh đạo Công an cấp huyện, chỉ huy Đội, cán bộ làm công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ ở các đơn vị Cảnh sát giao thông trong toàn quốc.

2. Cục Tài chính có trách nhiệm bảo đảm kinh phí cho lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông.

3. Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm:

a) Tổ chức tập huấn nghiệp vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ cho cán bộ Cảnh sát giao thông thuộc địa phương mình quản lý theo nội dung tài liệu tập huấn do Cục Cảnh sát giao thông biên soạn; trước khi tổ chức tập huấn phải có kế hoạch gửi về Cục Cảnh sát giao thông để theo dõi, giám sát. Sau khi kết thúc tập huấn phải báo cáo Cục Cảnh sát giao thông cấp giấy chứng nhận đã hoàn thành lớp tập huấn nghiệp vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông.

b) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ; in và sử dụng các biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư này.

c) Chỉ được bố trí những cán bộ đã được cấp giấy chứng nhận đã hoàn thành lớp tập huấn nghiệp vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ làm nhiệm vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ.

4. Các Tổng Cục trưởng, thủ trưởng đơn vị trực thuộc Bộ Công an, Giám đốc Công an, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Thông tư này.

Trong quá trình thực hiện Thông tư này, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát giao thông) để có hướng dẫn kịp thời./.

 

 

Nơi nhận:
- Các đồng chí Thứ trưởng;
- Các Tổng cục, đơn vị
trực thuộc Bộ Công an;
- C
ác trường Công an nhân dân;
- Công an
, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy các tỉnh, tp trực thuộc Trung ương;
- Lưu: VT,
C67, V19.

BỘ TRƯỞNG




Đại tướng Trần Đại Quang