QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Luật số:    /2017/QH14

 

DỰ THẢO

 

 

LUẬT

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013;

Quốc hội ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, pháp nhân bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự; thiệt hại được bồi thường; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân bị thiệt hại; cơ quan giải quyết bồi thường; cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường; cơ quan gây thiệt hại; thủ tục giải quyết bồi thường; kinh phí bồi thường; trách nhiệm hoàn trả, xử lý kỷ luật của cán bộ, công chức; quản lý nhà nước về công tác bồi thường; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về công tác bồi thường.

Điều 2. Đối tượng được bồi thường

Cá nhân, pháp nhân bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần (sau đây gọi chung là người bị thiệt hại) thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định tại Luật này thì được Nhà nước bồi thường.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc cá nhân, pháp nhân khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án.

2. Người yêu cầu bồi thường là người bị thiệt hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị thiệt hại hoặc người thừa kế hợp pháp của người bị thiệt hại, trong trường hợp người bị thiệt hại chết, có đơn yêu cầu bồi thường.

3. Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không đúng quy định của pháp luật.

4. Người đại diện giải quyết bồi thường là người được Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường cử để thực hiện việc giải quyết bồi thường theo quy định của Luật này.

5. Cơ quan gây thiệt hại là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại hoặc là cơ quan khác được xác định theo quy định tại Luật này.

6. Cơ quan giải quyết bồi thường là cơ quan có trách nhiệm thực hiện việc giải quyết bồi thường và được xác định theo quy định tại Luật này.

7. Cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường là cơ quan thuộc Bộ Tư pháp ở Trung ương và thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) ở địa phương và có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Luật này.

Điều 4. Nguyên tắc bồi thường của Nhà nước

1. Việc bồi thường của Nhà nước chỉ được thực hiện theo quy định của Luật này.

2. Nhà nước chỉ bồi thường sau khi hành vi gây thiệt hại của người thi hành công vụ đã được xác định tại văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và có yêu cầu bồi thường.

3. Nhà nước chỉ bồi thường cho người bị thiệt hại các thiệt hại được quy định tại Luật này.

4. Trường hợp người bị thiệt hại có một phần lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì Nhà nước chỉ bồi thường phần thiệt hại sau khi trừ đi phần thiệt hại tương ứng với phần lỗi của người bị thiệt hại.

5. Nhà nước không bồi thường thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng theo quy định của Bộ luật Dân sự hoặc do người bị thiệt hại không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Điều 5. Nguyên tắc giải quyết bồi thường

1. Việc giải quyết bồi thường phải được thực hiện thông qua thương lượng giữa cơ quan giải quyết bồi thường với người yêu cầu bồi thường trước khi được thực hiện tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự.

2. Kịp thời, công khai, đúng pháp luật.

3. Được trả một lần bằng tiền, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

4. Cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có trách nhiệm tham gia vào quá trình giải quyết bồi thường.

Điều 6. Quyền yêu cầu bồi thường

1. Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan giải quyết bồi thường thực hiện việc giải quyết bồi thường kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định tại các Điều 8, 9, 10, 11 và 12 của Luật này.

2. Người thừa kế của người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường trong trường hợp người bị thiệt hại chết trong quá trình giải quyết bồi thường hoặc người bị thiệt hại chết mà chưa yêu cầu bồi thường và quyền yêu cầu bồi thường còn thời hiệu theo quy định tại Luật này.

Điều 7. Thời hiệu yêu cầu bồi thường

1. Thời hiệu yêu cầu bồi thường là 03 năm, kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.

2. Ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường được xác định theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, thanh tra, tố tụng, thi hành án và pháp luật khác có liên quan.

3. Thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:

a) Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho người yêu cầu bồi thường không thể thực hiện quyền yêu cầu bồi thường;

b) Người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà chưa có người đại diện theo quy định của pháp luật;

c) Người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi đã có người đại diện nhưng người đại diện đã chết hoặc theo quy định của pháp luật thì họ không thể tiếp tục là người đại diện.

Người yêu cầu bồi thường có nghĩa vụ chứng minh các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu quy định tại khoản này.

Điều 8. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

1. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với các thiệt hại gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự phát sinh khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;

b) Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Luật này;

c) Có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra đối với người bị thiệt hại.

2. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự phát sinh khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;

b) Có thiệt hại thực tế do hành vi của người tiến hành tố tụng hình sự gây ra đối với người bị thiệt hại.

Điều 9. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường

Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường là các văn bản quy định tại các Điều 10, 11, 12, 13 và 14 của Luật này, đã có hiệu lực pháp luật, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định và có nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ hoặc có nội dung xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự.

Điều 10. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính

1. Quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại mà có nội dung chấp nhận một phần hoặc toàn bộ nội dung khiếu nại của người khiếu nại.

2. Quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định hành chính vì lý do quyết định hành chính đó được ban hành trái pháp luật.

3. Quyết định thực hiện kết luận nội dung tố cáo theo quy định của pháp luật về tố cáo mà có kết luận một phần hoặc toàn bộ nội dung tố cáo của công dân là có cơ sở.

4. Quyết định thực hiện kết luận thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra có nội dung xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có hành vi trái pháp luật.

5. Bản án, quyết định của Tòa án được ban hành theo quy định của pháp luật về tố tụng có nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

6. Quyết định xử lý kỷ luật công chức, viên chức do có hành vi trái pháp luật.

7. Các văn bản khác có nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ do Luật khác quy định.

Điều 11. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính

1. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị cuối cùng của Chánh án Tòa án có thẩm quyền hoặc của Hội đồng xét xử theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự, tố tụng hành chính mà có nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

2. Bản án, quyết định hình sự của Tòa án xác định người đã tiến hành tố tụng phạm tội ra bản án trái pháp luật hoặc tội ra quyết định trái pháp luật hoặc tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc.

3. Quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự vì lý do người đã tiến hành tố tụng ra bản án, quyết định trái pháp luật hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

4. Quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo của Chánh án Tòa án xác định người đã tiến hành tố tụng có hành vi ra bản án trái pháp luật hoặc ra quyết định trái pháp luật hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc trong trường hợp người đã tiến hành tố tụng chưa bị khởi tố hoặc đang bị điều tra, truy tố, xét xử về những hành vi này thì bị chết.

5. Quyết định xử lý kỷ luật công chức đối với người đã tiến hành tố tụng có hành vi ra bản án trái pháp luật hoặc ra quyết định trái pháp luật hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc trong trường hợp người đã tiến hành tố tụng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những hành vi này.

Điều 12. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự

1. Quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự hủy bỏ quyết định, lệnh giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ vì người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

2. Bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị tạm giam vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

3. Bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.

4. Bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà người đó không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

5. Bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù.

6. Bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành không phạm tội bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam.

7. Bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị xét xử bằng nhiều bản án, Tòa án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù.

Điều 13. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự

1. Quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự mà có nội dung chấp nhận một phần hoặc toàn bộ nội dung khiếu nại của người khiếu nại.

2. Quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy các quyết định trái pháp luật về thi hành án dân sự.

3. Quyết định thực hiện kết luận nội dung tố cáo theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự mà có kết luận một phần hoặc toàn bộ nội dung tố cáo của công dân là có cơ sở.

4. Quyết định thực hiện kết luận thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra mà có nội dung xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có hành vi trái pháp luật.

5. Văn bản của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trả lời chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền đã ra kháng nghị theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

6. Bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền mà có nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

7. Quyết định xử lý kỷ luật công chức, viên chức do có hành vi trái pháp luật.

8. Các văn bản khác có nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ do Luật khác quy định.

Điều 14. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án hình sự

1. Quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự mà có nội dung chấp nhận một phần hoặc toàn bộ nội dung khiếu nại của người khiếu nại;

2. Quyết định thực hiện kết luận nội dung tố cáo theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự mà có kết luận một phần hoặc toàn bộ nội dung tố cáo của công dân là có cơ sở.

3. Bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền mà có nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

4. Quyết định xử lý kỷ luật công chức, viên chức do có hành vi trái pháp luật.

5. Các văn bản khác có nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ do Luật khác quy định.

Điều 15. Quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại

1. Người bị thiệt hại có quyền sau đây:

a) Yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự theo quy định của Luật này;

b) Được ủy quyền cho người đại diện hợp pháp thực hiện quyền yêu cầu bồi thường;

c) Được cơ quan giải quyết bồi thường hoặc Tòa án giải quyết bồi thường và thông báo kết quả việc giải quyết bồi thường;

d) Kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp không xác định được cơ quan giải quyết bồi thường;

đ) Khiếu nại, tố cáo quyết định, hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền trong việc giải quyết bồi thường theo quy định tại Luật này;

e) Khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng;

g) Yêu cầu cơ quan, pháp nhân, người có thẩm quyền khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình.

2. Người bị thiệt hại có nghĩa vụ sau đây:

a) Cung cấp kịp thời, đầy đủ, trung thực tài liệu, chứng cứ có liên quan đến yêu cầu bồi thường và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ của mình;

b) Tham gia đầy đủ vào quá trình giải quyết bồi thường theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường;

c) Chứng minh về thiệt hại thực tế đã xảy ra.

Điều 16. Quyền và nghĩa vụ của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại

1. Người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại có quyền sau đây:

a) Nhận các văn bản liên quan đến việc giải quyết bồi thường;

b) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện quyết định, hành vi trái pháp luật của cơ quan giải quyết bồi thường, người có thẩm quyền trong việc giải quyết bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả, xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật;

c) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cá nhân, cơ quan, pháp nhân theo quy định tại Luật này và pháp luật có liên quan;

d) Quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại có nghĩa vụ sau đây:

a) Cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực thông tin, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết bồi thường theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường hoặc Tòa án và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ của mình;

b) Tham gia đầy đủ vào quá trình giải quyết bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả, xem xét trách nhiệm kỷ luật theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường và cơ quan gây thiệt hại;

c) Hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan giải quyết bồi thường;

d) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 17. Quản lý nhà nước về công tác bồi thường

1. Nhà nước thống nhất quản lý về công tác bồi thường.

2. Cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường thực hiện quản lý nhà nước theo nội dung và thẩm quyền quy định tại Điều 88 và các quy định khác của Luật này.

Điều 18. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan giải quyết bồi thường

1. Tiếp nhận, thụ lý đơn yêu cầu bồi thường.

2. Xác minh thiệt hại, thương lượng với người yêu cầu bồi thường, ra quyết định giải quyết bồi thường.

3. Tham gia tố tụng tại Tòa án với tư cách là bị đơn trong trường hợp người yêu cầu bồi thường khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường.

4. Xác định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ.

5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc giải quyết bồi thường theo quy định của Luật này và pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

6. Tổ chức khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại theo quy định của Luật này.

7. Khôi phục hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.

8. Thực hiện xử lý vi phạm trong hoạt động giải quyết bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả, xử lý kỷ luật theo kiến nghị của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan gây thiệt hại và các cơ quan liên quan thu hồi tiền hoàn trả, xử lý kỷ luật người đứng đầu cơ quan gây thiệt hại và người đứng đầu các cơ quan liên quan không hợp tác trong hoạt động giải quyết bồi thường.

9. Báo cáo về công tác bồi thường theo quy định của Luật này.

Điều 19. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan gây thiệt hại

1. Tham gia đầy đủ vào việc giải quyết bồi thường và xem xét trách nhiệm hoàn trả theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường.

2. Thực hiện việc xử lý kỷ luật theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với người thi hành công vụ gây thiệt hại.

3. Thu hồi tiền hoàn trả theo quy định của Luật này.

4. Thực hiện việc khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại theo quy định của Luật này.

5. Thực hiện việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.

6. Báo cáo kết quả việc xử lý kỷ luật người thi hành công vụ cho cơ quan có thẩm quyền và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường.

Điều 20. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Nghiêm cấm người đại diện giải quyết bồi thường, người yêu cầu bồi thường thực hiện các hành vi sau đây:

a) Giả mạo hồ sơ, tài liệu, giấy tờ để được bồi thường;

b) Thông đồng giữa người yêu cầu bồi thường với người đại diện giải quyết bồi thường và người có liên quan để trục lợi trong việc giải quyết bồi thường;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn can thiệp trái pháp luật vào quá trình giải quyết bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả và xử lý kỷ luật;

d) Không giải quyết bồi thường hoặc giải quyết bồi thường trái pháp luật;

đ) Không thực hiện việc xác định trách nhiệm hoàn trả và xem xét, xử lý kỷ luật;

e) Sử dụng trái phép kinh phí bồi thường;

g) Sách nhiễu trong quá trình giải quyết bồi thường.

2. Nghiêm cấm cơ quan gây thiệt hại, cá nhân, pháp nhân khác có hành vi cản trở hoạt động giải quyết bồi thường.

Chương II

PHẠM VI TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Điều 21. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây:

1. Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

2. Áp dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính;

3. Áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác;

4. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc;

5. Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép;

6. Áp dụng thuế, phí, lệ phí; thu thuế, phí, lệ phí; truy thu thuế; thu tiền sử dụng đất;

7. Áp dụng thủ tục hải quan;

8. Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

9. Ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

10. Cấp văn bằng bảo hộ cho người không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; ra quyết định chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ;

11. Không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép, văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ điều kiện;

12. Quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống.

Điều 22. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự

1. Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

a) Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự hủy quyết định, lệnh đó vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

b) Người bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;

c) Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

d) Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;

đ) Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;

e) Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành;

g) Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Tòa án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó, mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;

h) Pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định pháp nhân đó không thực hiện hành vi phạm tội;

i) Cá nhân, pháp nhân có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý có liên quan đến các trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản này.

2. Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 4 và 5 Điều 4 của Luật này, người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự không được Nhà nước bồi thường trong các trường hợp sau đây:

a) Người được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật;

b) Cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm;

c) Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án hoặc Tòa án quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, đã bị tạm giữ, bị tạm giam, đã chấp hành hình phạt tù hoặc đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại các điểm d, đ và e khoản 1 Điều này;

d) Người bị khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng vụ án đã được đình chỉ do người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố, trừ trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm;

đ) Người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử nhưng tại thời điểm ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 23. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây:

1. Tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

2. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, pháp nhân có yêu cầu;

3. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, pháp nhân;

4. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng;

5. Ra bản án, quyết định trái pháp luật hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc;

6. Các trường hợp khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính.

Điều 24. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây:

1. Ra quyết định thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình quy định tại khoản 2 và 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự.

2. Giam người bị kết án phạt tù quá thời hạn phải thi hành án theo bản án, quyết định của Tòa án.

3. Không thực hiện quyết định hoãn thi hành án của Tòa án đối với người bị kết án phạt tù.

4. Không thực hiện quyết định tạm đình chỉ thi hành án của Tòa án đối với người bị kết án phạt tù.

5. Không thực hiện quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù của Tòa án đối với người đang chấp hành hình phạt tù.

6. Không thực hiện quyết định đặc xá của Chủ tịch nước đối với người bị kết án phạt tù được đặc xá.

7. Không thực hiện quyết định đại xá của Quốc hội đối với người bị kết án được đại xá.

Điều 25. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây:

1. Ra hoặc không ra các quyết định: thi hành án; thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án; áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án; cưỡng chế thi hành án; thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án; hoãn thi hành án; tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án; tiếp tục thi hành án;

2. Tổ chức thi hành hoặc không tổ chức thi hành các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này.

Chương III

THIỆT HẠI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG

Điều 26. Nguyên tắc xác định thiệt hại

Việc xác định thiệt hại phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:

1. Thiệt hại được bồi thường là thiệt hại thực tế đã phát sinh, được quy định tại Luật này và khoản lãi (nếu có) theo quy định của pháp luật;

2. Trung thực, tôn trọng sự thật khách quan;

3. Tính đúng, tính đủ giá trị các thiệt hại được bồi thường theo quy định của Luật này;

4. Việc xác định giá trị các thiệt hại được bồi thường được tính tại thời điểm cơ quan giải quyết bồi thường xác minh thiệt hại.

Điều 27. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

1. Trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt hại được xác định căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn của tài sản trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Thời điểm để xác định hiện trạng tài sản làm căn cứ tính toán mức bồi thường là thời điểm thiệt hại xảy ra.

Trường hợp tài sản bị mất là vật đặc định theo quy định của Bộ luật Dân sự thì thiệt hại được xác định của tài sản đó là giá trị tính bằng vàng tại thời điểm người bị thiệt hại có quyền sở hữu tài sản đó. Việc bồi thường trong trường hợp này được thực hiện bằng tiền tính trên giá trị tính bằng vàng của tài sản bị mất tại thời điểm giải quyết bồi thường.

2. Trường hợp tài sản bị hư hỏng thì thiệt hại được xác định là chi phí có liên quan theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường để sửa chữa, khôi phục lại tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục thì thiệt hại được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Trường hợp có thiệt hại phát sinh do việc không sử dụng, khai thác tài sản thì thiệt hại được xác định là thu nhập thực tế bị mất. Đối với những tài sản trên thị trường có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định phù hợp với mức giá thuê của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm giải quyết bồi thường; đối với những tài sản trên thị trường không có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định trên cơ sở thu nhập do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm thiệt hại xảy ra.

4. Các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ. Trường hợp khoản tiền đó là khoản vay có lãi thì phải hoàn trả cả khoản lãi hợp pháp. Nếu khoản tiền đó không phải là khoản vay có lãi thì phải trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ theo lãi suất quy định tại Bộ luật Dân sự. Thời gian tính lãi được tính từ ngày người bị thiệt hại nộp tiền đến ngày cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc đến ngày Tòa án có bản án, quyết định giải quyết bồi thường.

5. Các khoản tiền bị tịch thu, thi hành án, khoản tiền đã đặt để bảo đảm theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền được hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ. Trường hợp khoản tiền đó là khoản vay có lãi thì phải hoàn trả cả khoản lãi hợp pháp. Nếu khoản tiền đó không phải là khoản vay có lãi thì phải trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ theo lãi suất quy định tại Bộ luật Dân sự. Thời gian tính lãi được tính từ ngày bị tịch thu, bị thi hành án hoặc được đặt để bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền đến ngày cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc đến ngày Tòa án có bản án, quyết định giải quyết bồi thường.

6. Trong trường hợp người bị thiệt hại không thực hiện được các giao dịch dân sự, kinh tế thì thiệt hại là số tiền phạt theo mức phạt đã thỏa thuận trong các giao dịch dân sự, kinh tế đó. Trường hợp khoản tiền phạt đó là khoản vay có lãi thì phải hoàn trả cả khoản lãi hợp pháp. Nếu khoản tiền phạt đó không phải là khoản vay có lãi thì phải trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ theo lãi suất quy định tại Bộ luật Dân sự. Thời gian tính lãi được tính từ ngày người bị thiệt hại nộp tiền phạt đến ngày cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc đến ngày Tòa án có bản án, quyết định giải quyết bồi thường.

7. Thiệt hại về chi phí để có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.

Điều 28. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút

1. Người bị thiệt hại có thu nhập mà xác định được thì được bồi thường theo thu nhập thực tế bị mất.

2. Trường hợp cá nhân có thu nhập thường xuyên nhưng không ổn định thì mức bồi thường được xác định căn cứ vào mức thu nhập trung bình của ba tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra.

3. Cá nhân có thu nhập không ổn định và không có cơ sở xác định cụ thể hoặc thu nhập có tính chất thời vụ thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương. Trường hợp không xác định được thu nhập trung bình thì tiền bồi thường được xác định theo mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (sau đây gọi chung là mức lương cơ sở) tại thời điểm giải quyết bồi thường.

4. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của cá nhân quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này được xác định như sau:

a) Trường hợp trước khi xảy ra thiệt hại mà người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề của người đó trước khi xảy ra thiệt hại để xác định khoản thu nhập thực tế;

b) Trường hợp trước khi xảy ra thiệt hại mà người bị thiệt hại có việc làm và hàng tháng có thu nhập nhưng không ổn định thì lấy mức thu nhập trung bình của ba tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra làm căn cứ để xác định khoản thu nhập thực tế;

c) Trường hợp trước khi xảy ra thiệt hại mà người bị thiệt hại là nông dân, ngư dân, người làm muối, người trồng rừng, người làm thuê, người buôn bán nhỏ, thợ thủ công, lao động khác có thu nhập nhưng theo mùa vụ hoặc không ổn định thì lấy mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương; nếu không xác định được thu nhập trung bình thì lấy mức lương cơ sở tại thời điểm giải quyết bồi thường làm căn cứ để xác định khoản thu nhập thực tế.

5. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của pháp nhân được xác định trên cơ sở thu nhập trung bình của hai năm liền kề trước thời điểm xảy ra thiệt hại. Thu nhập của pháp nhân được xác định theo báo cáo tài chính hợp pháp của pháp nhân; trường hợp không có báo cáo tài chính, pháp nhân có thể chứng minh thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút bằng các tài liệu, chứng cứ hợp pháp khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

Trường hợp pháp nhân được thành lập chưa đủ hai năm tính đến thời điểm xảy ra thiệt hại thì thu nhập thực tế của pháp nhân được xác định trên cơ sở thu nhập bình quân trong thời gian hoạt động thực tế của pháp nhân đó theo báo cáo tài chính hợp pháp của pháp nhân.

Điều 29. Thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết

1. Chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết.

2. Chi phí cho việc mai táng người bị thiệt hại chết.

3. Tiền cấp dưỡng hàng tháng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Điều 30. Thiệt hại về vật chất do sức khỏe bị xâm phạm

1. Chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại.

2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.

3. Chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

4. Chi phí chăm sóc cho người bị thiệt hại và khoản cấp dưỡng hàng tháng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và có người thường xuyên chăm sóc.

Điều 31. Thiệt hại về tinh thần

Ngoài các thiệt hại quy định tại các Điều 27, 28, 29 và 30 của Luật này, người bị thiệt hại còn được bồi thường các thiệt hại về tinh thần sau đây:

1. Thiệt hại về tinh thần trong thời gian bị tạm giữ hành chính, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở chữa bệnh bắt buộc được xác định là ba ngày lương cơ sở cho một ngày bị tạm giữ hành chính, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở chữa bệnh bắt buộc;

2. Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù được xác định là năm ngày lương cơ sở cho một ngày bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù;

3. Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết được xác định là sáu trăm tháng lương cơ sở;

4. Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp sức khỏe bị xâm phạm được xác định căn cứ vào mức độ sức khỏe bị tổn hại nhưng không quá năm mươi tháng lương cơ sở;

5. Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà không bị tạm giữ, tạm giam được xác định là ba ngày lương cơ sở cho một ngày bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù cho hưởng án treo. Thời gian để tính mức bồi thường thiệt hại được xác định kể từ ngày có quyết định khởi tố bị can cho đến ngày có bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xác định người đó thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại điểm c khoản 1 Điều 22 của Luật này;

6. Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp công chức bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật được xác định là hai ngày lương cơ sở cho một ngày bị buộc thôi việc trái pháp luật.

Điều 32. Khôi phục danh dự, uy tín

1. Người bị thiệt hại là cá nhân được khôi phục danh dự trong các trường hợp sau đây:

a) Bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự;

b) Bị áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở chữa bệnh bắt buộc.

2. Pháp nhân thương mại bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự thì được khôi phục uy tín.

Điều 33. Khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp khác đối với người bị thiệt hại là cá nhân

Ngoài các thiệt hại được quy định tại các Điều 27, 28, 29, 30, 31 và 32 của Luật này, người bị thiệt hại là cá nhân còn được khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp sau đây:

1. Khôi phục lại việc làm và các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật liên quan đến việc làm;

2. Khôi phục quyền học tập;

3. Khôi phục tư cách thành viên của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

Điều 34. Trả lại tài sản

Việc trả lại tài sản được thực hiện như sau:

1. Cơ quan đã ra các quyết định thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu tài sản có trách nhiệm trả lại tài sản cho người bị thiệt hại;

2. Thủ tục trả lại tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, thi hành án và tố tụng.

Chương IV

CƠ QUAN GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG, CƠ QUAN GÂY THIỆT HẠI

Mục 1. CƠ QUAN GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG

Điều 35. Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính

1. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Cơ quan cấp tỉnh được tổ chức theo hệ thống từ trung ương đến địa phương là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là cơ quan cấp tỉnh và cơ quan ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này.

3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện.

4. Ủy ban nhân dân cấp huyện là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).

Điều 36. Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự

1. Tòa án là cơ quan giải quyết bồi thường, bao gồm:

a) Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Tòa án nhân dân tối cao;

b) Tòa án nhân dân cấp cao là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Tòa án nhân dân cấp cao;

c) Tòa án nhân dân cấp tỉnh là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện;

d) Tòa án quân sự Trung ương là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Tòa án quân sự Trung ương;

đ) Tòa án quân sự quân khu và tương đương là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường cơ quan gây thiệt hại là Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực.

2. Viện kiểm sát là cơ quan giải quyết bồi thường, bao gồm:

a) Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

b) Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

c) Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện;

d) Viện kiểm sát quân sự Trung ương là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Viện kiểm sát quân sự Trung ương;

đ) Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực.

3. Cơ quan Công an nhân dân là cơ quan giải quyết bồi thường, bao gồm:

a) Bộ Công an là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an, cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, cơ quan khác thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Công an được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

b) Cơ quan Công an cấp tỉnh là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh, cấp huyện, cơ quan khác thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan Công an cấp tỉnh, cấp huyện được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

4. Bộ Quốc phòng là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp:

a) Cơ quan gây thiệt hại là cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng, cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương, cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng, cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương, cơ quan điều tra hình sự khu vực;

b) Cơ quan gây thiệt hại là các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Điều 37. Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính

1. Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Tòa án nhân dân tối cao.

2. Tòa án nhân dân cấp cao là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Tòa án nhân dân cấp cao.

3. Tòa án nhân dân cấp tỉnh là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

Điều 38. Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự

1. Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện.

2. Cơ quan thi hành án Bộ Quốc phòng là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là cơ quan thi hành án trong quân đội.

Điều 39. Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án hình sự

1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

2. Tòa án quân sự Trung ương là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là Tòa án quân sự Trung ương.

3. Cơ quan thi hành án Bộ Quốc phòng là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là cơ quan thi hành án trong quân đội.

4. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là cơ quan thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an.

5. Cơ quan Công an cấp tỉnh là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp cơ quan gây thiệt hại là cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp huyện.

Điều 40. Cơ quan gây thiệt hại là cơ quan giải quyết bồi thường

1. Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã, cơ quan Công an cấp xã là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp người có thẩm quyền thuộc cơ quan mình thực hiện xử phạt vi phạm hành chính gây thiệt hại.

2. Cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp việc xử lý kỷ luật buộc thôi việc đó gây ra thiệt hại.

3. Cơ quan tiến hành tố tụng, thi hành án dân sự là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp người có thẩm quyền thuộc cơ quan mình thực hiện xử phạt vi phạm hành chính gây thiệt hại.

4. Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là cơ quan giải quyết bồi thường, trong trường hợp người thi hành công vụ thuộc các cơ quan mình gây ra thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 và 4 Điều 36, khoản 2, 3 và 4 Điều 39 của Luật này.

Mục 2. CƠ QUAN GÂY THIỆT HẠI

Điều 41. Nguyên tắc xác định cơ quan gây thiệt hại

1. Cơ quan gây thiệt hại được xác định theo quy định tại khoản 5 Điều 3 của Luật này, trừ các trường hợp sau đây:

a) Trường hợp cơ quan gây thiệt hại đã được chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc bị giải thể thì cơ quan kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó là cơ quan gây thiệt hại; trường hợp không có cơ quan nào kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đã bị giải thể thì cơ quan đã ra quyết định giải thể là cơ quan gây thiệt hại;

b) Trường hợp tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu bồi thường mà người thi hành công vụ gây ra thiệt hại không còn làm việc tại cơ quan quản lý người đó thì cơ quan gây thiệt hại là cơ quan quản lý người thi hành công vụ tại thời điểm gây ra thiệt hại;

c) Trường hợp có sự ủy quyền hoặc ủy thác thực hiện công vụ thì cơ quan ủy quyền hoặc cơ quan ủy thác là cơ quan gây thiệt hại; trường hợp cơ quan được ủy quyền, cơ quan nhận ủy thác thực hiện không đúng nội dung ủy quyền, ủy thác gây thiệt hại thì cơ quan này là cơ quan gây thiệt hại;

d) Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan cùng gây ra thiệt hại thì cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chịu trách nhiệm chính trong vụ việc là cơ quan gây thiệt hại;

đ) Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc cơ quan Trung ương và cơ quan địa phương cùng gây ra thiệt hại thì cơ quan trung ương là cơ quan gây thiệt hại.

2. Cơ quan gây thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự là cơ quan ở giai đoạn tố tụng liền trước giai đoạn mà cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền khác đã ban hành văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.

Điều 42. Xác định cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gây thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự

Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là cơ quan gây thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

1. Đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và có quyết định trả tự do; đã ra quyết định bắt, quyết định tạm giữ nhưng Viện kiểm sát có thẩm quyền đã có quyết định hủy bỏ các quyết định đó vì người đó không có hành vi vi phạm pháp luật;

2. Đã ra quyết định khởi tố bị can nhưng Viện kiểm sát có thẩm quyền không phê chuẩn quyết định khởi tố vì người bị khởi tố không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

3. Trong trường hợp Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra lại hoặc điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra ra kết luận điều tra lại hoặc điều tra bổ sung hoặc giữ nguyên kết luận điều tra ban đầu nhưng Viện kiểm sát không phê chuẩn và ra quyết định đình chỉ vụ án vì người bị khởi tố không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.

Điều 43. Xác định Viện kiểm sát gây thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự

Viện kiểm sát là cơ quan gây thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

1. Đã phê chuẩn lệnh bắt, quyết định tạm giữ, gia hạn tạm giữ của cơ quan điều tra có thẩm quyền nhưng người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật;

2. Đã phê chuẩn lệnh tạm giam của cơ quan điều tra có thẩm quyền hoặc ra lệnh tạm giam, gia hạn tạm giam mà sau đó có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

3. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng sau đó có quyết định của cơ quan có thẩm quyền đình chỉ điều tra vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;

4. Đã có quyết định truy tố bị can nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật;

5. Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

6. Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội và sau đó Tòa án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vẫn giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

7. Tòa án có thẩm quyền trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra lại hoặc điều tra bổ sung, Viện kiểm sát đã phê chuẩn kết quả điều tra nhưng sau đó cơ quan có thẩm quyền tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.

Điều 44. Xác định Tòa án gây thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự

1. Tòa án cấp sơ thẩm là cơ quan gây thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

a) Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc không có hành vi phạm tội, hoặc hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì hành vi không cấu thành tội phạm hoặc không có hành vi phạm tội;

b) Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật nhưng Tòa án có thẩm quyền xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

c) Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng Tòa án có thẩm quyền xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

d) Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng Tòa án có thẩm quyền xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.

2. Tòa án cấp phúc thẩm là cơ quan gây thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

a) Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Tòa án có thẩm quyền xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án phúc thẩm và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

b) Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Tòa án có thẩm quyền xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án phúc thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

c) Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Tòa án có thẩm quyền xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án phúc thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.

3. Tòa án nhân dân cấp tỉnh là cơ quan gây thiệt hại khi Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án của Tòa án nhân dân cấp huyện tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:

a) Tòa án nhân dân cấp cao xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

b) Tòa án nhân dân cấp cao xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

c) Tòa án nhân dân cấp cao xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.

4. Tòa án quân sự quân khu và tương đương là cơ quan gây thiệt hại khi Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tương đương xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án của Tòa án quân sự khu vực tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:

a) Tòa án quân sự Trung ương xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tương đương và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

b) Tòa án quân sự Trung ương xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tương đương để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

c) Tòa án quân sự Trung ương xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tương đương để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.

5. Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương là cơ quan gây thiệt hại khi xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án của Tòa án cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:

a) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

b) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

c) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.

6. Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan gây thiệt hại trong trường hợp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trong các trường hợp sau đây:

a) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật và quyết định về nội dung vụ án;

b) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;

c) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật để điều tra, xét xử lại.

Chương V

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG

Mục 1. GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG TẠI CƠ QUAN GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG

Điều 45. Hồ sơ yêu cầu bồi thường

1. Trường hợp người bị thiệt hại trực tiếp yêu cầu bồi thường thì hồ sơ yêu cầu bồi thường (sau đây gọi chung là hồ sơ) bao gồm:

a) Đơn yêu cầu bồi thường;

b) Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;

c) Giấy tờ chứng minh nhân thân của người bị thiệt hại;

d) Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường (nếu có).

2. Trường hợp người yêu cầu bồi thường là người thừa kế hợp pháp hoặc là người đại diện của người bị thiệt hại, thì ngoài các tài liệu quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều này, hồ sơ còn phải có các tài liệu sau đây:

a) Giấy tờ chứng minh nhân thân của người thừa kế hợp pháp, người đại diện của người bị thiệt hại;

b) Văn bản ủy quyền hợp pháp;

c) Trường hợp người bị thiệt hại chết mà có di chúc thì người yêu cầu bồi thường phải cung cấp di chúc hoặc văn bản hợp pháp khác về quyền thừa kế.

3. Đơn yêu cầu bồi thường phải có các nội dung chính sau đây:

a) Họ, tên, địa chỉ, số điện thoại liên lạc (nếu có) của người yêu cầu bồi thường;

b) Ngày, tháng, năm gửi đơn yêu cầu bồi thường;

c) Lý do yêu cầu bồi thường;

d) Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường;

đ) Đề nghị cơ quan giải quyết bồi thường thu thập văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường không có khả năng thu thập văn bản đó;

e) Khôi phục danh dự, uy tín (nếu có);

g) Việc khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp khác có liên quan (nếu có).

4. Người yêu cầu bồi thường có thể gửi hồ sơ trực tiếp tại cơ quan giải quyết bồi thường hoặc gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính.

5. Trong trường hợp người yêu cầu bồi thường trực tiếp gửi hồ sơ, thì các giấy tờ, tài liệu và chứng cứ quy định tại các điểm b, c, d khoản 1 và các điểm a, b, c khoản 2 Điều này là bản photocopy nhưng phải có bản chính để đối chiếu; trong trường hợp người yêu cầu bồi thường gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, thì các giấy tờ, tài liệu và chứng cứ quy định tại các điểm b, c, d khoản 1 và các điểm a, b, c khoản 2 Điều này là bản sao có công chứng hoặc chứng thực.

Điều 46. Thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ

1. Cơ quan giải quyết bồi thường tiếp nhận hồ sơ, ghi vào sổ nhận hồ sơ và cấp giấy xác nhận đã nhận hồ sơ cho người yêu cầu bồi thường, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường nộp hồ sơ trực tiếp. Trường hợp hồ sơ được gửi qua dịch vụ bưu chính, thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan giải quyết bồi thường phải thông báo bằng văn bản về việc nhận hồ sơ cho người yêu cầu bồi thường.

2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường cử người đại diện giải quyết bồi thường. Người đại diện giải quyết bồi thường phải là công chức lãnh đạo cấp phòng hoặc tương đương trở lên; có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực phát sinh trách nhiệm bồi thường và không được là thân nhân của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại hoặc của người bị thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Trường hợp người được cử làm người đại diện giải quyết bồi thường là người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ việc hoặc là thân nhân của người bị thiệt hại, người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại, thì Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường phải cử người khác làm người đại diện giải quyết bồi thường.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được cử, người đại diện giải quyết bồi thường xem xét hồ sơ và kiến nghị Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra một trong các văn bản sau đây:

a) Thông báo đề nghị người yêu cầu bồi thường bổ sung hồ sơ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo, người yêu cầu bồi thường phải bổ sung đầy đủ hồ sơ;

b) Văn bản đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền cung cấp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường có đề nghị. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường có trách nhiệm cung cấp văn bản đó cho cơ quan giải quyết bồi thường;

c) Văn bản đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền làm rõ nội dung văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trong trường hợp nội dung của văn bản đó không rõ ràng. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường có trách nhiệm trả lời cơ quan giải quyết bồi thường bằng văn bản.

4. Kết quả xử lý hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này phải được ghi vào sổ nhận hồ sơ và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường.

Điều 47. Thụ lý hồ sơ

1. Thủ tục thụ lý hồ sơ

a) Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, người đại diện giải quyết bồi thường phải vào sổ thụ lý, cơ quan giải quyết bồi thường thông báo bằng văn bản về việc thụ lý hồ sơ cho người yêu cầu bồi thường, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường và cơ quan gây thiệt hại.

b) Ngay sau khi có thông báo thụ lý hồ sơ, người đại diện giải quyết bồi thường lập hồ sơ giải quyết bồi thường.

Trong trường hợp cần thiết, người đại diện giải quyết bồi thường kiến nghị Thủ trưởng cơ quan yêu cầu cá nhân, pháp nhân có liên quan cung cấp tài liệu, chứng cứ về việc giải quyết bồi thường.

2. Các trường hợp không thụ lý hồ sơ

a) Đã hết thời hiệu yêu cầu bồi thường.

b) Yêu cầu bồi thường không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

c) Người yêu cầu bồi thường không phải là người có quyền yêu cầu bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật này.

d) Người yêu cầu bồi thường không có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường và trong quá trình thu thập văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường xác định được là không có văn bản này.

đ) Cơ quan, người có thẩm quyền nhận được yêu cầu quy định tại điểm c khoản 3 Điều 46 của Luật này có văn bản trả lời cơ quan giải quyết bồi thường, trong đó xác định văn bản mà người yêu cầu bồi thường cung cấp không phải là văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.

e) Hết thời hạn quy định tại điểm a khoản 3 Điều 46 của Luật này mà người yêu cầu bồi thường không bổ sung đầy đủ hồ sơ theo yêu cầu.

3. Ngay sau khi thụ lý hồ sơ, người đại diện giải quyết bồi thường nghiên cứu, đề xuất các thiệt hại có thể bồi thường được ngay quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5 và 6 Điều 31 của Luật này.

Điều 48. Xác minh thiệt hại

1. Người đại diện giải quyết bồi thường có trách nhiệm tiến hành xác minh các thiệt hại theo hồ sơ. Trong trường hợp cần thiết, người đại diện giải quyết bồi thường có thể đề nghị việc định giá tài sản, trưng cầu giám định thiệt hại hoặc lấy ý kiến của các cá nhân, pháp nhân có liên quan về thiệt hại, mức bồi thường.

2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, người đại diện giải quyết bồi thường phải hoàn thành việc xác minh thiệt hại. Trường hợp vụ việc giải quyết bồi thường có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm, thì thời hạn xác minh thiệt hại có thể được kéo dài, nhưng tối đa không quá 30 ngày.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt hại, người đại diện giải quyết bồi thường phải hoàn thành báo cáo xác minh thiệt hại làm căn cứ để thương lượng việc bồi thường.

4. Đối với các thiệt hại theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5 và 6 Điều 31 thì cơ quan giải quyết bồi thường không thực hiện xác minh thiệt hại.

5. Trong trường hợp vụ việc phức tạp, cơ quan giải quyết bồi thường có thể mời đại diện cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường tham gia vào việc xác minh thiệt hại.

Điều 49. Thương lượng việc bồi thường

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hoàn thành báo cáo xác minh thiệt hại, người đại diện giải quyết bồi thường phải tiến hành thương lượng với người yêu cầu bồi thường. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày bắt đầu tiến hành thương lượng, việc thương lượng phải được hoàn thành. Trường hợp vụ việc giải quyết bồi thường có nhiều tình tiết phức tạp, thì thời hạn thương lượng có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 15 ngày.

2. Thành phần tham gia thương lượng gồm người đại diện giải quyết bồi thường, người yêu cầu bồi thường, đại diện cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường và đại diện cơ quan gây thiệt hại. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan giải quyết bồi thường có thể yêu cầu người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại tham gia thương lượng.

3. Địa điểm thương lượng là trụ sở của cơ quan giải quyết bồi thường hoặc trụ sở của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu bồi thường cư trú, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường là cá nhân, nơi đặt trụ sở chính, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường là pháp nhân, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

4. Nội dung thương lượng

a) Các loại thiệt hại được bồi thường.

b) Số tiền bồi thường.

c) Khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có).

d) Phương thức chi trả tiền bồi thường, nơi gửi quyết định giải quyết bồi thường.

đ) Các nội dung khác có liên quan đến việc giải quyết bồi thường.

5. Kết thúc việc thương lượng, người đại diện giải quyết bồi thường phải lập biên bản thương lượng và có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên. Biên bản thương lượng phải ghi rõ những nội dung chính quy định tại khoản 4 Điều này. Trường hợp các bên tiến hành thương lượng nhiều lần thì sau mỗi lần thương lượng đều phải lập biên bản. Biên bản thương lượng phải được đọc cho các bên tham gia thương lượng cùng nghe trước khi ký. Biên bản phải được giao ngay cho người yêu cầu bồi thường một bản tại buổi thương lượng.

6. Ngay sau khi kết thúc việc thương lượng, căn cứ vào biên bản thương lượng, người đại diện giải quyết bồi thường phải hoàn thành báo cáo kết quả thương lượng.

Điều 50. Thẩm định hồ sơ giải quyết bồi thường

1. Thẩm quyền thẩm định

a) Bộ Tư pháp thẩm định hồ sơ giải quyết bồi thường của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm định hồ sơ giải quyết bồi thường của các cơ quan giải quyết bồi thường trên phạm vi địa giới hành chính địa phương mình, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có báo cáo kết quả thương lượng, cơ quan giải quyết bồi thường phải gửi hồ sơ giải quyết bồi thường đến cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có thẩm quyền để thẩm định (sau đây gọi chung là cơ quan thẩm định). Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

a) Văn bản đề nghị thẩm định;

b) Các văn bản, tài liệu quy định tại Điều 45 của Luật này;

c) Dự thảo quyết định giải quyết bồi thường;

d) Quyết định giải quyết bồi thường quy định tại khoản 3 Điều 51 của Luật này (nếu có).

3. Nội dung thẩm định gồm:

a) Tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường;

c) Sự phù hợp giữa thiệt hại được bồi thường, số tiền bồi thường với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và nội dung thương lượng giữa cơ quan giải quyết bồi thường và người yêu cầu bồi thường;

d) Số tiền bồi thường theo kết quả thương lượng; số tiền bồi thường tại quyết định giải quyết bồi thường quy định tại khoản 3 Điều 51 của Luật này (nếu có).

4. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hợp lệ quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan thẩm định chủ trì thẩm định, ra văn bản thẩm định hồ sơ giải quyết bồi thường.

Trường hợp hồ sơ không đầy đủ, thì cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan giải quyết bồi thường bổ sung hồ sơ. Thời hạn bổ sung hồ sơ tối đa không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan thẩm định.

Trường hợp vụ việc phức tạp, thì thời hạn thẩm định có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 15 ngày.

Điều 51. Ra quyết định giải quyết bồi thường

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản thẩm định, căn cứ nội dung văn bản thẩm định và báo cáo kết quả thương lượng, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định giải quyết bồi thường.

2. Quyết định giải quyết bồi thường phải có các nội dung chính sau đây:

a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường;

b) Tóm tắt lý do yêu cầu bồi thường;

c) Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

d) Số tiền bồi thường;

đ) Số tiền đã được bồi thường theo quyết định giải quyết bồi thường quy định tại khoản 3 Điều này (nếu có);

đ) Khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có);

e) Cách thức chi trả tiền bồi thường;

g) Quyền khởi kiện tại Tòa án, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường;

h) Cách thức gửi, nơi gửi quyết định giải quyết bồi thường;

i) Hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường.

3. Trường hợp người đại diện giải quyết bồi thường xác định được ngay các thiệt hại được bồi thường theo quy định tại khoản 3 Điều 46 của Luật này, trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề xuất, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường phải ra quyết định giải quyết bồi thường đối với các thiệt hại đó.

Điều 52. Gửi quyết định giải quyết bồi thường

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định giải quyết bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường phải gửi quyết định cho người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường, cơ quan gây thiệt hại và tổ chức quản lý người thi hành công vụ khác (nếu có).

2. Việc gửi quyết định cho người yêu cầu bồi thường được thực hiện theo cách thức xác định trong quyết định tại một trong các địa điểm sau:

a) Trụ sở cơ quan giải quyết bồi thường;

b) Trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu bồi thường cư trú, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở chính của người yêu cầu bồi thường, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường là pháp nhân;

c) Nơi làm việc, nơi học tập của người yêu cầu bồi thường, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường là cá nhân.

3. Việc gửi quyết định giải quyết bồi thường phải được lập thành biên bản có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu bồi thường, đại diện của cơ quan giải quyết bồi thường và của đại diện cơ quan, tổ chức nơi gửi.

4. Quyết định giải quyết bồi thường quy định tại khoản 3 Điều 51 của Luật này phải được gửi ngay cho người yêu cầu bồi thường.

Điều 53. Thu hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường

1. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định thu hồi quyết định giải quyết bồi thường trong các trường hợp sau đây:

a) Quyết định giải quyết bồi thường được ban hành không đúng thẩm quyền;

b) Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định không còn là căn cứ để yêu cầu bồi thường;

c) Phát hiện việc giả mạo hồ sơ, tài liệu, giấy tờ để được bồi thường hoặc có sự thông đồng giữa người bị thiệt hại với người đại diện giải quyết bồi thường và người có liên quan để trục lợi;

d) Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

2. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định sửa đổi, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường trong trường hợp quyết định giải quyết bồi thường có sai sót mà không làm thay đổi về các thiệt hại và số tiền bồi thường.

3. Quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường phải ghi rõ căn cứ, nội dung và hậu quả pháp lý của việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung và phải được gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có thẩm quyền.

Điều 54. Hoãn giải quyết bồi thường

1. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định hoãn giải quyết bồi thường trong các trường hợp sau đây:

a) Người yêu cầu bồi thường đề nghị hoãn mà có lý do chính đáng;

b) Cơ quan, người có thẩm quyền xem xét lại văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.

2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định hoãn giải quyết bồi thường. Quyết định hoãn giải quyết bồi thường phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;

b) Tên cơ quan ra quyết định;

c) Lý do, thời hạn hoãn.

3. Thời hạn hoãn giải quyết bồi thường

a) Thời hạn hoãn giải quyết bồi thường đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được xác định theo đề nghị của người yêu cầu bồi thường nhưng tối đa không quá 30 ngày, trừ trường hợp người yêu cầu bồi thường bị ốm.

b) Thời hạn hoãn giải quyết bồi thường đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được xác định từ ngày ra quyết định hoãn giải quyết bồi thường cho đến ngày cơ quan giải quyết bồi thường nhận được văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền xem xét lại văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.

4. Quyết định hoãn giải quyết bồi thường phải được gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có thẩm quyền, người yêu cầu bồi thường, cơ quan gây thiệt hại.

Điều 55. Tạm đình chỉ giải quyết bồi thường

1. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết bồi thường trong các trường hợp sau đây:

a) Người yêu cầu bồi thường không đến địa điểm thương lượng khi được mời đến lần thứ hai mà không có lý do chính đáng;

b) Người yêu cầu bồi thường từ chối nhận giấy mời tham gia thương lượng;

c) Sau khi kết thúc việc thương lượng mà người yêu cầu bồi thường không ký vào biên bản thương lượng.

2. Thời hạn tạm đình chỉ giải quyết bồi thường là 60 ngày, kể từ ngày có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp người yêu cầu bồi thường có đề nghị tiếp tục giải quyết bồi thường.

3. Hết thời hạn tạm đình chỉ quy định tại khoản 2 Điều này hoặc trong thời hạn đó mà người yêu cầu bồi thường có đề nghị tiếp tục giải quyết bồi thường, thì Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định tiếp tục giải quyết bồi thường.

4. Quyết định tạm đình chỉ, quyết định tiếp tục giải quyết bồi thường phải được gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có thẩm quyền.

Điều 56. Đình chỉ giải quyết bồi thường

1. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định đình chỉ giải quyết bồi thường trong các trường hợp sau đây:

a) Người yêu cầu bồi thường rút đơn yêu cầu bồi thường;

b) Người bị thiệt hại chết mà không có người thừa kế;

c) Sau khi có quyết định tiếp tục giải quyết bồi thường quy định tại Điều 55 của Luật này, mà người yêu cầu bồi thường từ chối nhận giấy mời tham gia thương lượng hoặc người yêu cầu bồi thường không đến địa điểm thương lượng khi được mời mà không có lý do chính đáng hoặc sau khi kết thúc việc thương lượng mà người yêu cầu bồi thường không ký vào biên bản thương lượng;

d) Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định không còn là căn cứ để yêu cầu bồi thường.

2. Người yêu cầu bồi thường không có quyền yêu cầu cơ quan giải quyết bồi thường hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết bồi thường sau khi có quyết định đình chỉ giải quyết bồi thường.

3. Quyết định đình chỉ giải quyết bồi thường phải được gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có thẩm quyền.

Điều 57. Hiệu lực quyết định giải quyết bồi thường

1. Quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được quyết định, trừ trường hợp người yêu cầu bồi thường không đồng ý và khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường.

2. Kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật, cơ quan giải quyết bồi thường phải gửi ngay quyết định đó cho cơ quan tài chính có thẩm quyền để thực hiện việc chi trả tiền bồi thường. Đồng thời, gửi ngay quyết định giải quyết bồi thường cho cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có thẩm quyền.

Mục 2. GIẢI QUYẾT YÊU CẦU BỒI THƯỜNG TẠI TÒA ÁN

Điều 58. Áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự

1. Thủ tục giải quyết bồi thường tại Tòa án được áp dụng theo thủ tục rút gọn quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự, trừ các quy định tại Điều 316 và khoản 4 Điều 317.

2. Việc giải quyết bồi thường tại Tòa án được thực hiện theo quy định tại Mục này. Trường hợp Mục này không có quy định thì áp dụng các quy định có liên quan của Bộ luật Tố tụng dân sự mà không trái với quy định tại Mục này.

Điều 59. Khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường

1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được quyết định giải quyết bồi thường mà không đồng ý với quyết định đó, thì người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường.

2. Trường hợp do trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng theo quy định của Bộ luật Dân sự mà người yêu cầu bồi thường không thể khởi kiện đúng thời hạn thì khoảng thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng đó không được tính vào thời hạn khởi kiện quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Người yêu cầu bồi thường không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường, trong trường hợp quyết định giải quyết bồi thường đã có hiệu lực pháp luật.

Điều 60. Thẩm quyền giải quyết bồi thường tại Tòa án

1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường, bao gồm cả các vụ việc yêu cầu bồi thường có yếu tố nước ngoài và các vụ việc yêu cầu bồi thường do người thi hành công vụ trong quân đội gây ra, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường do hành vi gây thiệt hại của người thi hành công vụ cấp xã gây ra.

3. Tòa án có thẩm quyền quy định tại khoản 1 và 2 Điều này xem xét, quyết định mức bồi thường và việc khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp khác theo quy định tại Luật này.

Điều 61. Người tham gia tố tụng

1. Trường hợp người yêu cầu bồi thường khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo quy định tại Điều 59 của Luật này, thì cơ quan giải quyết bồi thường là bị đơn.

2. Cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường, cơ quan gây thiệt hại và người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại là người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

Điều 62. Thi hành bản án, quyết định của Tòa án về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

1. Cơ quan tài chính có thẩm quyền phải chi trả tiền bồi thường cho người yêu cầu bồi thường theo bản án, quyết định giải quyết bồi thường của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Các cơ quan, pháp nhân, người có thẩm quyền khác phải thực hiện việc khôi phục các quyền, lợi ích khác cho người bị thiệt hại theo bản án, quyết định giải quyết bồi thường của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Mục 3. KHÔI PHỤC DANH DỰ

Điều 63. Hình thức khôi phục danh dự, uy tín

1. Việc khôi phục danh dự đối với cá nhân là người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự bao gồm hai hình thức sau đây:

a) Tổ chức trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú của người bị thiệt hại;

b) Đăng báo xin lỗi, cải chính công khai.

2. Việc khôi phục uy tín đối với pháp nhân thương mại là người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự bao gồm hai hình thức sau đây:

a) Tổ chức họp báo xin lỗi, cải chính công khai tại nơi pháp nhân đặt trụ sở chính;

b) Đăng báo xin lỗi, cải chính công khai.

3. Việc khôi phục danh dự đối với cá nhân là người bị thiệt hại trong trường hợp bị áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở chữa bệnh bắt buộc được thực hiện bằng hình thức đăng báo xin lỗi, cải chính công khai.

Điều 64. Thủ tục, thời hạn thực hiện tổ chức trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai

1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, cơ quan giải quyết bồi thường tổ chức thực hiện:

a) Bố trí địa điểm thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai và thông báo cho những người quy định tại điểm b và c khoản này về địa điểm, thời gian tổ chức xin lỗi, cải chính công khai;

b) Cử đại diện lãnh đạo tham gia buổi xin lỗi;

c) Mời người bị thiệt hại là cá nhân hoặc thân nhân của họ, trong trường hợp người bị thiệt hại chết, đại diện chính quyền địa phương, các cơ quan đoàn thể, đại diện khu dân cư nơi cư trú của người bị thiệt hại; mời người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại, đại diện hiệp hội, ngành hàng mà pháp nhân thương mại là thành viên, đại diện chính quyền địa phương nơi pháp nhân thương mại đặt trụ sở chính; cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường và cơ quan thông tấn báo chí tham dự;

d) Yêu cầu cơ quan gây thiệt hại cử đại diện lãnh đạo tham gia buổi xin lỗi, cải chính công khai, chuẩn bị bài phát biểu xin lỗi người bị thiệt hại.

2. Trình tự thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai được thực hiện như sau:

a) Đại diện cơ quan giải quyết bồi thường tuyên bố lý do, thông qua chương trình buổi xin lỗi, cải chính công khai và giới thiệu thành phần tham gia;

b) Đại diện lãnh đạo cơ quan gây thiệt hại trình bày bài xin lỗi, cải chính công khai đối với người bị thiệt hại;

c) Người bị thiệt hại và đại diện thân nhân của họ (nếu có) phát biểu tiếp nhận lời xin lỗi và cải chính công khai của đại diện lãnh đạo cơ quan gây thiệt hại;

d) Đại diện chính quyền địa phương phát biểu;

đ) Đại diện cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường phát biểu.

Điều 65. Đăng báo xin lỗi, cải chính công khai

1. Trường hợp cá nhân là người bị thiệt hại, thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, cơ quan gây thiệt hại phải đăng báo xin lỗi, cải chính công khai trên một tờ báo Trung ương và một tờ báo địa phương trong ba số liên tiếp.

2. Trường hợp pháp nhân thương mại là người bị thiệt hại, thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, cơ quan gây thiệt hại phải đăng báo xin lỗi, cải chính công khai trên một tờ báo Trung ương và các tờ báo địa phương nơi pháp nhân đặt trụ sở và nơi đặt văn phòng đại diện trong ba số liên tiếp.

Chương VI

KINH PHÍ BỒI THƯỜNG VÀ THỦ TỤC CHI TRẢ

Điều 66. Kinh phí bồi thường

1. Kinh phí bồi thường là một mục trong mục lục ngân sách nhà nước.

2. Trường hợp cơ quan trung ương là cơ quan giải quyết bồi thường thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách trung ương.

3. Trường hợp cơ quan địa phương là cơ quan giải quyết bồi thường thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách cấp tỉnh.

4. Bộ Tài chính, Sở Tài chính có trách nhiệm chi trả kịp thời và đầy đủ tiền bồi thường.

Điều 67. Lập dự toán kinh phí bồi thường

Hàng năm, căn cứ thực tế bồi thường của năm trước, Bộ Tài chính, Sở Tài chính lập dự toán kinh phí bồi thường để tổng hợp vào dự toán ngân sách cấp mình, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Điều 68. Chi trả tiền bồi thường

1. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường của cơ quan giải quyết bồi thường hoặc bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường đã có hiệu lực pháp luật, cơ quan tài chính có thẩm quyền phải hoàn thành việc chi trả tiền bồi thường cho người yêu cầu bồi thường.

2. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này nhưng người yêu cầu bồi thường không nhận tiền bồi thường mà không có lý do chính đáng, thì cơ quan tài chính có thẩm quyền làm thủ tục sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày chi trả xong tiền bồi thường hoặc kể từ ngày sung quỹ nhà nước, cơ quan tài chính phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan giải quyết bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường.

Chương VII

TRÁCH NHIỆM HOÀN TRẢ VÀ XỬ LÝ KỶ LUẬT

Mục 1. TRÁCH NHIỆM HOÀN TRẢ

Điều 69. Nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ

1. Người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một phần khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định hoàn trả của cơ quan giải quyết bồi thường, trừ trường hợp quy định tại Điều 77 của Luật này.

2. Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ có lỗi cùng gây ra thiệt hại thì những người đó cùng có nghĩa vụ hoàn trả. Nghĩa vụ hoàn trả được xác định tương ứng với mức độ lỗi của từng người.

Điều 70. Xác định mức hoàn trả, miễn, giảm trách nhiệm hoàn trả

1. Căn cứ xác định mức hoàn trả

a) Mức độ lỗi của người thi hành công vụ.

b) Mức độ thiệt hại đã gây ra.

2. Mức hoàn trả

a) Người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì mức hoàn trả tối đa không quá 50 tháng lương của người đó tại thời điểm quyết định việc hoàn trả.

b) Người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây thiệt hại, thì mức hoàn trả tối đa không quá 05 tháng lương của người đó tại thời điểm quyết định việc hoàn trả.

c) Người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại mà có bản án đã có hiệu lực pháp luật tuyên người đó phạm tội, thì phải hoàn trả toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại.

3. Người thi hành công vụ được miễn trách nhiệm hoàn trả khi có đủ các điều kiện sau:

a) Việc gây thiệt hại là do lỗi vô ý của người thi hành công vụ;

b) Người thi hành công vụ đã thực hiện các biện pháp để khắc phục thiệt hại do hành vi của mình gây ra trước khi cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;

c) Số tiền mà Nhà nước phải bồi thường không quá 50.000.000 đồng.

4. Người thi hành công vụ được giảm trách nhiệm hoàn trả khi có đủ các điều kiện sau:

a) Người thi hành công vụ chủ động thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình giải quyết bồi thường và thực hiện trách nhiệm hoàn trả.

b) Số tiền mà Nhà nước phải bồi thường không quá 100.000.000 đồng

5. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường quyết định việc miễn, giảm trách nhiệm hoàn trả theo kiến nghị của Hội đồng xác định trách nhiệm hoàn trả.

Điều 71. Thẩm quyền, thủ tục xác định trách nhiệm hoàn trả

1. Cơ quan giải quyết bồi thường đã giải quyết bồi thường hoặc đã tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn khi Tòa án giải quyết bồi thường có thẩm quyền xác định trách nhiệm hoàn trả.

2. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường thành lập Hội đồng xác định trách nhiệm hoàn trả để tư vấn việc xác định trách nhiệm hoàn trả, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 70 của Luật này.

3. Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ phải hoàn trả theo quy định tại khoản 2 Điều 69 của Luật này, thì các cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ phải phối hợp với cơ quan giải quyết bồi thường xác định mức hoàn trả cho từng người thi hành công vụ.

Điều 72. Thời hạn ban hành quyết định hoàn trả

1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chi trả xong tiền bồi thường, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường phải ban hành quyết định hoàn trả.

2. Trường hợp vụ việc có khó khăn, phức tạp thì thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 45 ngày.

Điều 73. Hiệu lực của quyết định hoàn trả

1. Quyết định hoàn trả có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày người thi hành công vụ nhận được quyết định, trừ trường hợp họ không đồng ý và khiếu nại theo quy định tại Luật này hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

2. Căn cứ vào quyết định hoàn trả đã có hiệu lực pháp luật, cơ quan gây thiệt hại thực hiện việc thu số tiền phải hoàn trả và nộp vào ngân sách nhà nước.

Điều 74. Khiếu nại, khởi kiện quyết định hoàn trả

Trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 73 của Luật này, người thi hành công vụ có quyền khiếu nại quyết định hoàn trả theo quy định tại Luật này hoặc khởi kiện quyết định đó theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Điều 75. Phương thức thực hiện hoàn trả

1. Việc hoàn trả có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần và phải được xác định trong quyết định hoàn trả.

2. Trường hợp việc hoàn trả được thực hiện bằng cách trừ dần vào thu nhập từ tiền lương hàng tháng của người thi hành công vụ, thì mức trừ tối thiểu không dưới 10% và tối đa không quá 30% thu nhập từ tiền lương hàng tháng, trừ trường hợp người thi hành công vụ và cơ quan giải quyết bồi thường thống nhất bằng văn bản mức trừ cao hơn 30% thu nhập từ tiền lương hàng tháng.

Điều 76. Xác định trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền xem xét lại văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường

Trong quá trình xác định trách nhiệm hoàn trả mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền có văn bản, trong đó, có nội dung xác định văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường không còn là căn cứ yêu cầu bồi thường, thì việc xác định trách nhiệm hoàn trả được thực hiện như sau:

1. Trường hợp cơ quan gây thiệt hại đã thu tiền hoàn trả, thì phải trả lại số tiền đó cho người thi hành công vụ;

2. Trường hợp chưa ban hành quyết định hoàn trả hoặc đã ban hành quyết định nhưng quyết định đó chưa có hiệu lực, thì Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định thu hồi quyết định hoàn trả và đình chỉ việc xác định trách nhiệm hoàn trả.

Điều 77. Xác định trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ bị tuyên là có tội

1. Khi xét xử vụ án hình sự mà người thi hành công vụ là bị cáo do thực hiện hành vi trái pháp luật làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, thì Tòa án không xem xét giải quyết đối với trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

2. Người thi hành công vụ quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại.

Điều 78. Trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ đã nghỉ hưu

1. Cơ quan bảo hiểm xã hội đang trả lương hưu cho người thi hành công vụ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan gây thiệt hại tại thời điểm người đó gây ra thiệt hại thực hiện việc thu tiền hoàn trả theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp người thi hành công vụ đã nghỉ hưu nhưng không hưởng lương hưu, thì cơ quan gây thiệt hại tại thời điểm người đó gây ra thiệt hại có trách nhiệm thu hồi tiền hoàn trả theo quy định của pháp luật.

Điều 79. Trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ đã chuyển công tác sang cơ quan, tổ chức khác trong bộ máy nhà nước

Cơ quan, tổ chức đang trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có trách nhiệm:

1. Thu tiền hoàn trả theo quyết định hoàn trả đã có hiệu lực pháp luật;

2. Cử đại diện tham gia Hội đồng xác định trách nhiệm hoàn trả, trong trường hợp người thi hành công vụ đã chuyển công tác đến cơ quan mình mà cơ quan giải quyết bồi thường chưa thực hiện việc xác định trách nhiệm hoàn trả.

Điều 80. Trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ không còn làm việc trong các cơ quan nhà nước

1. Trường hợp người thi hành công vụ đang làm việc tại doanh nghiệp hoặc tổ chức khác, thì tổ chức, doanh nghiệp đó có trách nhiệm thu tiền hoàn trả.

2. Trường hợp người thi hành công vụ không còn làm việc trong các cơ quan nhà nước và họ cũng không làm việc cho tổ chức hay doanh nghiệp nào, thì cơ quan gây thiệt hại tại thời điểm người đó gây ra thiệt hại có trách nhiệm thu tiền hoàn trả.

Điều 81. Trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ chết

1. Trường hợp quyết định hoàn trả được ban hành trước khi người thi hành công vụ chết, thì việc hoàn trả do người thừa kế của người đó thực hiện trong phạm vi di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp người thi hành công vụ chết trước khi Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ban hành quyết định hoàn trả, thì Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định đình chỉ việc xác định trách nhiệm hoàn trả.

Điều 82. Xử lý người thi hành công vụ cố ý không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả

Trường hợp các cơ quan, tổ chức có liên quan quy định tại Mục này đã thực hiện các biện pháp thu tiền hoàn trả theo quy định của pháp luật mà người thi hành công vụ cố ý không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả, thì cơ quan giải quyết bồi thường có quyền yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành Quyết định hoàn trả.

Điều 83. Trách nhiệm hoàn trả của cá nhân, pháp nhân khác

1. Cá nhân, pháp nhân nhận ủy quyền thực hiện nhiệm vụ công vụ mà thực hiện sai nội dung ủy quyền gây thiệt hại làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, thì phải hoàn trả toàn bộ khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại.

2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày cơ quan tài chính chi trả xong tiền bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường phải có văn bản đề nghị cơ quan đã ủy quyền yêu cầu cá nhân, pháp nhân nhận ủy quyền hoàn trả lại khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại.

3. Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan giải quyết bồi thường, cơ quan đã ủy quyền có trách nhiệm thu hồi khoản tiền hoàn trả và nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

4. Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà cá nhân, pháp nhân nhận ủy quyền cố tình không thực hiện việc hoàn trả, thì cơ quan đã ủy quyền có quyền khởi kiện cá nhân, pháp nhân đó theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Mục 2. XỬ LÝ KỶ LUẬT

Điều 84. Các trường hợp xử lý kỷ luật

Người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong Quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong Công an nhân dân có lỗi gây thiệt hại làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì bị xử lý kỷ luật, trừ trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã thực hiện việc xử lý kỷ luật người thi hành công vụ và quyết định xử lý kỷ luật đã được người bị thiệt hại sử dụng làm căn cứ yêu cầu bồi thường.

Điều 85. Thời hạn xử lý kỷ luật đối với người thi hành công vụ

Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày chi trả tiền bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật công chức, trừ trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã thực hiện việc xử lý kỷ luật công chức mà hình thức kỷ luật tương xứng với số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại và quyết định xử lý kỷ luật đã được người bị thiệt hại sử dụng làm căn cứ yêu cầu bồi thường.

Điều 86. Căn cứ xem xét, xử lý kỷ luật

1. Tính chất, mức độ vi phạm trong thi hành công vụ.

2. Mức độ lỗi.

3. Số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại.

Điều 87. Các hình thức kỷ luật

1. Các hình thức kỷ luật đối với người thi hành công vụ gây thiệt hại bao gồm:

a) Cảnh cáo;

b) Hạ bậc lương;

c) Giáng chức;

d) Cách chức;

đ) Buộc thôi việc.

2. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc xử lý kỷ luật đối với người thi hành công vụ thuộc phạm vi do mình quản lý.

3. Ngoài việc bị áp dụng các hình thức kỷ luật quy định tại khoản 1 Điều này, cán bộ, công chức có lỗi gây ra thiệt hại mà do năng lực, chuyên môn hạn chế, thì còn có thể bị buộc đào tạo lại, bồi dưỡng thêm.

Chương VIII

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN CÓ LIÊN QUAN TRONG CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG

Điều 88. Trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án trên phạm vi cả nước.

2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Xây dựng chiến lược, chính sách về công tác bồi thường;

b) Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

c) Hướng dẫn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ công tác bồi thường; giải đáp vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

d) Cung cấp thông tin, hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường;

đ) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác bồi thường; thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong công tác bồi thường;

e) Sáu tháng, hàng năm thống kê, sơ kết, tổng kết việc thực hiện công tác bồi thường báo cáo Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội khi có yêu cầu; yêu cầu cơ quan giải quyết bồi thường báo cáo về việc giải quyết bồi thường, thực hiện trách nhiệm hoàn trả và xử lý kỷ luật người thi hành công vụ;

g) Quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bồi thường của Nhà nước;

h) Quản lý cơ sở dữ liệu về công tác bồi thường;

i) Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm đối với người đứng đầu của cơ quan giải quyết bồi thường, cơ quan gây thiệt hại trong việc giải quyết bồi thường, xem xét trách nhiệm hoàn trả, xử lý kỷ luật trong trường hợp cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường đã có văn bản đôn đốc mà không thực hiện;

k) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án tại địa phương và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Hướng dẫn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ công tác bồi thường;

b) Cung cấp thông tin, hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường trong phạm vi địa phương mình;

c) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác bồi thường; thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong công tác bồi thường;

d) Định kỳ sáu tháng, hàng năm, thống kê việc thực hiện công tác bồi thường báo cáo Bộ Tư pháp; yêu cầu cơ quan giải quyết bồi thường báo cáo về việc giải quyết bồi thường, thực hiện trách nhiệm hoàn trả và xử lý kỷ luật người thi hành công vụ;

đ) Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm đối với người đứng đầu của cơ quan giải quyết bồi thường, cơ quan gây thiệt hại trong việc giải quyết bồi thường, xem xét trách nhiệm hoàn trả, xử lý kỷ luật trong trường hợp đã có văn bản đôn đốc mà không thực hiện;

e) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường tại địa phương.

Điều 89. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi do mình quản lý có trách nhiệm:

1. Ban hành hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

2. Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác bồi thường;

3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác bồi thường theo quy định của pháp luật;

4. Chỉ đạo cơ quan giải quyết bồi thường trong phạm vi do mình quản lý thực hiện việc giải quyết bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả;

5. Chỉ đạo cơ quan gây thiệt hại tham gia giải quyết bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả; thu hồi tiền hoàn trả; thực hiện xử lý kỷ luật theo thẩm quyền;

6. Thực hiện hoặc chỉ đạo thực hiện việc xử lý vi phạm đối với các cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết bồi thường, xem xét trách nhiệm hoàn trả, xử lý kỷ luật; xử lý người đứng đầu của cơ quan gây thiệt hại không hợp tác trong hoạt động giải quyết bồi thường theo kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền;

7. Định kỳ 06 tháng, hàng năm hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có thẩm quyền, thống kê, tổng hợp tình hình công tác bồi thường trong phạm vi quản lý gửi Bộ Tư pháp.

Điều 90. Trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi do mình quản lý có trách nhiệm:

1. Phối hợp với Bộ Tư pháp phổ biến, giáo dục pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

2. Phối hợp với Bộ Tư pháp kiểm tra về công tác bồi thường;

3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong công tác bồi thường thuộc phạm vi do mình quản lý;

4. Chỉ đạo cơ quan giải quyết bồi thường trong phạm vi do mình quản lý thực hiện việc giải quyết bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả;

5. Chỉ đạo cơ quan gây thiệt hại trong phạm vi do mình quản lý tham gia giải quyết bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả; thu hồi tiền hoàn trả; thực hiện xử lý kỷ luật theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật người thi hành công vụ;

6. Giải quyết bồi thường theo thẩm quyền;

7. Thực hiện hoặc chỉ đạo thực hiện việc xử lý vi phạm đối với các cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết bồi thường, xem xét trách nhiệm hoàn trả, xử lý kỷ luật; xử lý người đứng đầu của cơ quan gây thiệt hại không hợp tác trong hoạt động giải quyết bồi thường theo kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền;

8. Định kỳ 06 tháng, hàng năm hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có thẩm quyền, thống kê, tổng hợp tình hình công tác bồi thường trong phạm vi quản lý gửi Bộ Tư pháp;

9. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Chương IX

KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ XỬ LÝ VI PHẠM VỀ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG

Điều 91. Áp dụng pháp luật về khiếu nại

Thời hiệu khiếu nại, các trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại.

Điều 92. Khiếu nại về công tác bồi thường

Các quyết định hành chính, hành vi hành chính sau đây thuộc phạm vi khiếu nại về công tác bồi thường:

1. Cử người đại diện giải quyết bồi thường;

2. Không thụ lý hồ sơ;

3. Xác minh thiệt hại;

4. Thương lượng việc bồi thường;

5. Gửi quyết định giải quyết bồi thường;

6. Thu hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường;

7. Hoãn giải quyết bồi thường;

8. Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết bồi thường;

9. Chi trả tiền bồi thường;

10. Xác định trách nhiệm hoàn trả;

11. Xử phạt vi phạm hành chính.

Điều 93. Giải quyết khiếu nại và khởi kiện vụ án hành chính

1. Giải quyết khiếu nại lần đầu

Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi hành chính của mình, của người đại diện giải quyết bồi thường do mình trực tiếp quản lý.

2. Giải quyết khiếu nại lần hai

a) Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.

b) Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan giải quyết bồi thường có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định, hành vi hành chính của người có thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều này nhưng còn khiếu nại hoặc đã hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu nhưng khiếu nại chưa được giải quyết.

3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều này, thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

4. Trường hợp khiếu nại về công tác bồi thường được thụ lý, giải quyết thì thời hạn giải quyết khiếu nại không tính vào thời hạn giải quyết bồi thường.

Điều 94. Thời hạn giải quyết khiếu nại

1. Đối với quyết định, hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 92 của Luật này thì thời hạn giải quyết lần đầu là 05 ngày làm việc, lần hai là 10 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.

2. Đối với quyết định, hành vi quy định tại các khoản 3, 4, 10 và 11 Điều 92 của Luật này thì thời hạn giải quyết lần đầu là 7 ngày, lần hai là 15 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.

Điều 95. Tố cáo và giải quyết tố cáo về công tác bồi thường

1. Công dân có quyền tố cáo với người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường và các công chức khác làm công tác bồi thường, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

2. Việc tố cáo và giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

Điều 96. Xử lý vi phạm

Người bị thiệt hại, người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại, người đại diện giải quyết bồi thường, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường và các cá nhân, pháp nhân khác có hành vi vi phạm pháp luật trong việc giải quyết bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả, chi trả tiền bồi thường, thu hồi tiền hoàn trả, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Điều 97. Các hành vi vi phạm, thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính

1. Các hành vi vi phạm

a) Có hành vi giả mạo hồ sơ, giấy tờ, tài liệu yêu cầu bồi thường.

b) Không tiếp nhận và xử lý hồ sơ.

c) Không cung cấp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường.

d) Không trả lời yêu cầu làm rõ nội dung văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.

đ) Không thụ lý hồ sơ trong trường hợp hồ sơ đã đủ điều kiện thụ lý.

e) Không cung cấp hoặc cung cấp sai sự thật các giấy tờ, tài liệu phục vụ cho quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường.

g) Không giải quyết bồi thường.

h) Không ra quyết định giải quyết bồi thường.

i) Không gửi quyết định giải quyết bồi thường.

k) Không tham dự buổi xin lỗi, cải chính công khai khi được triệu tập.

l) Không thực hiện đăng báo xin lỗi, cải chính công khai.

m) Không xác định trách nhiệm hoàn trả.

n) Không thu hồi tiền hoàn trả theo quyết định hoàn trả có hiệu lực pháp luật.

o) Người thi hành công vụ gây ra thiệt hại cố tình không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả.

2. Thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính được xác định theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Chương X

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 98. Án phí, lệ phí, các loại phí khác và thuế trong quá trình giải quyết bồi thường

1. Khi yêu cầu bồi thường đối với các trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định tại Luật này, người bị thiệt hại không phải nộp án phí, lệ phí và các loại phí khác.

2. Người bị thiệt hại không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản tiền bồi thường được nhận.

Điều 99.  Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày ... tháng ... năm 2018.

2. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

Điều 100.  Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

1. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các Điều 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 46, 48, 49, 70, 71, khoản 1 và khoản 3 Điều 87 của Luật này; hướng dẫn các điều, khoản được giao trong Luật và hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu thực hiện giải quyết bồi thường và quản lý nhà nước về công tác bồi thường.

2. Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều 82 của Luật này..

3. Bộ Tài chính quy định cụ thể về kinh phí bồi thường.

4. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành quy định tại khoản 2 Điều 87 của Luật này.

5. Bộ Tư pháp quy định biểu mẫu đơn yêu cầu bồi thường; văn bản cử công chức giải quyết bồi thường; giấy xác nhận đã nhận hồ sơ; thông báo nhận hồ sơ; thông báo thụ lý; sổ nhận đơn; sổ thụ lý; biên bản thương lượng; báo cáo kết quả thương lượng; quyết định giải quyết bồi thường; biên bản chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường; quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định giải quyết bồi thường; quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết bồi thường; quyết định tiếp tục giải quyết bồi thường; quyết định hoàn trả; quyết định đình chỉ việc xác định trách nhiệm hoàn trả.

Điều 101.  Điều khoản chuyển tiếp

1. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực pháp luật, các trường hợp yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, mà đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thụ lý nhưng chưa giải quyết hoặc đang giải quyết thì tiếp tục áp dụng Luật đó để giải quyết.

2. Các trường hợp yêu cầu bồi thường được thụ lý kể từ ngày Luật này có hiệu lực pháp luật và các trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 nhưng người bị thiệt hại chưa yêu cầu bồi thường mà còn thời hiệu, thì áp dụng Luật này để giải quyết.

3. Các trường hợp yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định tại Luật này nhưng không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 mà phát sinh trong thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 cho đến thời điểm Luật này có hiệu lực pháp luật, thì áp dụng Luật này để giải quyết.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ … thông qua ngày … tháng … năm 2017./.

 

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Nguyễn Thị Kim Ngân