BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 5384/TCT-CS
V/v giải quyết thu tiền sử dụng đất.

Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 2016

 

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn.

Trả lời Công văn số 1976/CT-TTr ngày 22/7/2015 của Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn xin ý kiến về xác định nghĩa vụ tài chính chuyển mục đích sử dụng đất phát sinh tại thành phố Bắc Kạn, giai đoạn năm 2010 đến năm 2013, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

- Tại Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005 quy định: “Nhà ở theo quy định của Luật này là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân.

- Tại khoản 2, Điều 6 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/1/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất và được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2, Điều 5 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần, quy định:“a) Chuyển từ đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư không được công nhận là đất ở sang làm đất ở thì thu tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tỉnh theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp;

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao không được công nhận là đất ở hoặc đất nông nghiệp sang đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp thì thu tiền sử dụng đất bằng chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp”.

b) Chuyển từ đất nông nghiệp được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất sang đất ở thì thu tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp;

c) Chuyển mục đích sử dụng đất có nguồn gốc từ nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp sang đất ở thì thu tiền sử dụng đất như sau:

- Đất nhận chuyển nhượng có nguồn gốc là đất nông nghiệp thì thu tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp;

- Đất nhận chuyển nhượng có nguồn gốc là đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) thì thu tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất phi nông nghiệp.”

- Tại khoản 3, Điều 4 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai quy định: “3. Trường hợp người sử dụng đất nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận, hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ ngày 01/01/2005 trở về sau thì giá đất áp dụng để xác định nghĩa vụ tài chính là giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ....; nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước của người nộp hồ sơ được xác định tại thời điểm đã nộp đủ hồ sơ hợp lệ”.

- Tại khoản 4, Điều 3 bản Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 750/2009/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc Kạn về một số nội dung cụ thể trong công tác quản lý nhà nước về đất đai áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, quy định:“4. Khái niệm đất vườn ao:

- Đất vườn gắn liền với đất ở trong khuôn viên có nhà ở của mỗi hộ, gia đình, cá nhân trong khu dân cư: Là phần diện tích đất nằm trong khuôn viên của thửa đất có nhà ở của hộ gia đình, cá nhân, được trồng xen kẽ, lẫn giữa các cây trồng hàng năm với cây trồng lâu năm, cây thuốc, cây cảnh, hoa hoặc trồng hỗn hợp các loại cây trồng mà không thể tách riêng để tính diện tích cho từng loại.

- Đất ao liền kề với đất ở của hộ gia đình, cá nhân: Là phần diện tích đất mặt nước mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng để nuôi trồng thủy sản hoặc để làm cảnh quan nằm trong thừa đất có nhà ở của hộ gia đình, cá nhân.”

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất vườn, ao không được công nhận là đất ở, khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển sang làm đất ở, trong giai đoạn năm 2010 đến năm 2013 thì nộp tiền sử dụng đất theo từng trường hợp như sau:

1) Trường hợp chuyển từ đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư không được công nhận là đất ở sang làm đất ở, tại thời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ xin chuyển sang làm đất ở, bao gồm cả nhà ở đã tháo, dỡ để cải tạo, xây dựng mới, đất vườn ao có nhà ở theo quy định tại khoản 4, Điều 3 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 750/2009/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc Kạn, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định có nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở, thì thu tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 6 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2, Điều 5 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 nêu trên, không phân biệt nguồn gốc đất vườn, ao có được do nhận chuyển nhượng hoặc không do nhận chuyển nhượng.

2) Trường hợp chuyển từ đất vườn, ao trong cùng thửa đất không có nhà ở thuộc khu dân cư, không được công nhận là đất ở (hoặc đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở), nhưng nhà ở không được xác định theo quy định của pháp luật về nhà ở và đất vườn ao không thuộc quy định tại khoản 4, Điều 3 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 750/2009/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc Kạn), sang làm đất ở thì thu tiền sử dụng đất như sau:

- Nếu đất vườn, ao được xác định là đất nông nghiệp được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất thì thu tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 6 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP nêu trên;

- Nếu đất vườn, ao được xác định có nguồn gốc từ nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp sang đất ở (lần đầu) thì thu tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 6 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP nêu trên.

Đề nghị Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn nghiên cứu các nội dung hướng dẫn để xem xét giải quyết từng trường hợp cụ thể phát sinh tại địa phương. Trong quá trình thực hiện, nếu còn vướng mắc, đề nghị Cục Thuế báo cáo cụ thể để được tiếp tục nghiên cứu hướng dẫn giải quyết.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế được biết ./.

 


Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ PC (BTC), QLCS, CST;
- Vụ PC-TCT;
- Lưu: VT, CS (3b).

TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG
KT. VỤ TRƯỞNG VỤ CHÍNH SÁCH
PHÓ VỤ TRƯỞNG




Hoàng Thị Hà Giang