Số: 161
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 26 tháng 6 năm 1985
Công u?c s? 161

CÔNG ƯỚC SỐ 161

CÔNG ƯỚC VỀ DỊCH VỤ Y TẾ LAO ĐỘNG, 1985

Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế,

Được Hội đồng quản trị của Văn phòng Lao động quốc tế triệu tập tại Giơ-ne-vơ ngày 7 tháng 6 năm 1985, trong kỷ họp thứ bảy mươi mất, và

Ghi nhận rằng việc bảo vệ người lao động chống các bệnh tật nói chung, hoặc bệnh nghề nghiệp và những tai nạn do lao đống, là một trong những nhiệm vụ theo Điều lệ của Tổ chức Lao động quốc tế, và

Ghi nhận các Công ước và Khuyến nghị quốc tế về lao động hữu quan, đặc biệt là Khuyến nghị về Bảo vệ sức khỏe của người lao động, 1953, Khuyến nghị về Dịch vụ y tế lao động, 1959, Công ước về Các đại diện người lao động, 1971, cũng như Công ước và Khuyến nghị về An toàn lao động và vệ sinh lao động, 1981, thiết lập những nguyên tắc của chính sách quốc gia và hành động ở tầm quốc gia, và

Sau khi đã quyết định chấp thuận một số đề nghị về dịch vụ y tế lao động, là vấn đề thuộc điểm thứ tư trong chương trình nghị sự kỳ họp, và

Sau khi đã quyết định rằng những đề nghị đó sẽ mang hình thức một Công ước quốc tế,

Thông qua ngày 26 tháng 6 năm 1985, Công ước dưới đây gọi là Công ước về Dịch vụ y tế lao động, 1985.

PHẦN I. CÁC NGUYÊN TẮC CỦA CHÍNH SÁCH QUỐC GIA

Điều 1

Trong Công ước này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a) "Dịch vụ y tế lao động" là chỉ các dịch vụ được giao chức năng chủ yếu là phòng ngừa và trách nhiệm tư vấn cho người sử dụng lao động, người lao động và các đại diện của họ ở cơ sở về:

i) Những nhu cầu phải thiết lập và duy trì một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh, để tạo nên tình trạng sức khỏe tốt nhất về thể chất và tinh thần liên quan với lao động;

ii) Sự thích ứng của công việc với năng lực của người lao động, xét theo tình trạng thể chất và tinh thần của họ;

b) "Các đại diện của người lao động trong doanh nghiệp" là chỉ những người được thừa nhận tư cách đó theo pháp luật hoặc tập quán quốc gia.

Điều 2

Xét theo các diều kiện và thực tiễn quốc gia và với sự tham khảo ý kiến các tổ chức mang tính đại diện nhất, nếu có, của người sử dụng lao động và của người lao động, mọi Nước thành viên phải hình thành, thực hiện và định kỳ xem xét lại một chính sách quốc gia chặt chẽ về các dịch vụ y tế lao động.

Điều 3

1. Mọi Nước thành viên cam kết sẽ xây dựng dần các dịch vụ y tế lao động cho tất cả mọi người lao động, kể cả những người trong khu vực công cộng và thành viên các hợp tác xã sản xuất, trong tất cả các ngành hoạt động kinh tế và tất cả các cơ sở.

Các quy định phải thỏa đáng và thích hợp với những rủi ro đặc thù của các cơ sở đó.

2. Nếu các dịch vụ y tế lao động không thể được xây dựng ngay cho tất cả các cơ sở, thì mỗi Nước thành viên liên quan phải lập các kế hoạch để xây dựng những dịch vụ đó, với sự tham khảo ý liến những tổ chức đại diện nhất, nếu có, của người sử dụng lao động và của người lao động.

3. Mọi Nước thành viên hữu quan sẽ chỉ rõ, trong báo cáo đầu tiên về việc thực hiện Công ước này theo Điều 22 của Điều lệ Tổ chức Lao động quốc tế, những kế hoạch được lập theo Đoạn 2, mọi sự tiến bộ đạt được trong việc thực hiện các kế hoạch đó.

Điều 4

Cơ quan có thẩm quyền sẽ tham khảo ý kiến các tổ chức mang tính đại diện nhất của người sử dụng lao động và của người lao động, nếu có, về những biện pháp được áp dụng để thi hành các quy định của Công ước này.

PHẦN II. CÁC CHỨC NĂNG

Điều 5

Ngoại trừ trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với sức khỏe và an toàn của người lao động được sử dụng, và lưu ý tới sự cần thiết để người lao động tham gia vấn đề bảo đảm sức khỏe và an toàn trong lao động, các dịch vụ y tế lao động phải bảo đảm những chức năng sau đây vừa thỏa đáng, vừa phù hợp với những rủi ro của cơ sở:

a) Xác định và đánh giá những rủi ro tác động đến sức khỏe tại các nơi làm việc;

b) Giám sát các yếu tố của môi trường làm việc và những sự, thực hành lao động có thể tác hại tới sức khỏe của người lao động, kể cả những cơ sở y tế, nhà ăn và nhà ở, nếu những thứ này do người sử dụng lao động cung cấp;

c) Tư vấn về kế hoạch hóa và tổ chức lao động, bao gồm cả về thiết kế các nơi làm việc, về việc lựa chọn, bảo dưỡng và tình trạng các máy móc và trang thiết bị, cũng như về các chất sử dụng trong lao động;

d) Tham gia việc xây dựng các chương trình cải tiến những phương pháp thực hành lao động, cũng như việc thử nghiệm và đánh giá các trang thiết bị mới đối với tình trạng sức khỏe;

e) Tư vấn về sức khỏe, an toàn và vệ sinh trong lao động, về công thái học và về các trang thiết bị phòng hộ cá nhân và tập thể;

f) Giám sát sức khỏe của người lao động liên quan với lao động.

g) Xúc tiến việc thích ứng công việc với người lao động;

h) Đóng góp vào các biện pháp tái thích ứng nghề nghiệp;

i) Cộng tác trong việc phổ biến thông tin, đào tạo và giáo dục về lĩnh vực sức khỏe và vệ sinh trong lao động và về công thái học;

j) Tổ chức sơ cứu và cấp cứu;

k) Tham gia phân tích các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.

P/IẦN III. TỔ CHỨC

Điều 6

Phải có những quy định về việc thiết lập các dịch vụ y tê lao động:

a) Bằng pháp luật hoặc quy định;

b) Bằng các thỏa ước tập thể hoặc các thỏa thuận khác giữa những người sử dụng lao động và những người lao động hữu quan;

c) Bằng mọi cách khác được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận, sau khi tham khảo ý kiến các tổ chức mang tính đại diện nhất, nếu có, của người lao động và của người sử dụng lao động.

Điều 7

1. Các dịch vụ y tế lao động có thể được tổ chức, tùy trường hợp, hoặc là dịch vụ chỉ cho một cơ sở, hoặc là một dịch vụ chung cho nhiều cơ sở.

2. Phù hợp với các điều kiện và thực tiễn quốc gia các dịch vụ y tế lao động có thể được tổ chức bởi:

a) Các cơ sở hoặc nhóm cơ sở có liên quan;

b) Các cấp chính quyền hoặc các cơ quan;

c) Các tổ chức an toàn xã hội;

d) Các cơ quan khác dược phép của cơ quan có thẩm quyền;

e) Một sự kết hợp các hình thức nêu trên.

Điều 8

Người sử dụng lao động, người lao động và các đại diện của họ, nếu có, sẽ hợp tác và tham gia trên cơ sở bình đẳng, việc thực hiện tổ chức các dịch vụ y tế lao động và các biện pháp khác liên quan tới các dịch vụ đó.

PHẦN IV. CÁC ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN

Điều 9

1. Phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc gia, các dịch vụ y tế lao động sẽ là các dịch vụ đa chức năng. Thành phần nhân lực sẽ được xác đính tùy theo tính chất của những nhiệm vụ phải thực hiện.

2. Các dịch vụ y tế lao động sẽ thực hiện chức năng của mình với sự hợp tác cùng các dịch vụ khác tại cơ sở đó.

3. Các biện pháp được áp dụng phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc gia, để bảo đảm sự hợp tác và phối hợp thỏa đáng giữa các dịch vụ y tế lao động, và nếu thích hợp, với các cơ quan khác liên quan tới việc cấp trợ cấp y tế.

Điều 10

Những người làm dịch vụ y tế lao động phải được độc lập hoàn toàn về mặt chuyên môn đối với người sử dụng lao động, người lao động và các đại diện của họ, nếu có, trong những chức năng quy định ở Điều 5.

Điều 11

Cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết đánh những tiêu chuẩn cần đòi hỏi đối với những người làm dịch vụ y tế lao động, tùy theo tính chất của những nhiệm vụ phải làm và phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc gia.

Điều 12

Sự giám sát sức khỏe của người lao động liên quan với công việc của họ không được kéo theo việc làm cho họ bị mất một khoản thu nhận nào, phải được miễn phí và phải hết sức thực hiện trong giờ làm việc.

Điều 13

Tất cả mọi người lao động phải được thông tin về những rủi ro đối với sức khỏe liên quan với công việc của họ.

Điều 14

Các dịch vụ y tế lao động sẽ được người sử dụng lao động và người lao động thông báo về bất kỳ một yếu tố nào đã biết hoặc khả nghi trong môi trường làm việc là có thể tác hại tới sức khỏe của người lao động.

Điều 15

Các dịch vụ y tế lao động phải được thông báo về những trường hợp ốm và nghỉ việc vì lý do sức khỏe trong những người lao động để có thể xác định mọi mối quan hệ có thể có giữa những nguyên nhân gây ra ốm hoặc nghỉ việc và những rủi ro đối với sức khoẻ có thể xuất hiện tại các nơi làm việc. Người sử dụng lao động không được yêu cầu những người làm dịch vụ y tế lao động thẩm tra các lý do hợp lý về nghỉ việc.

PHẦN V. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 16

Pháp luật và quy định quốc gia phải chỉ định các tổ chức hoặc cơ quan có thẩm quyền, chịu trách nhiệm giám sát hoạt động của các dịch vụ y tế lao động và tư vấn cho các dịch vụ này một khi chúng đã được thiết lập.

Các Điều từ 17 đến 24

Những quy định cuối cùng mẫu.

Phụ lục I

NHỮNG QUY ĐỊNH CUỐI CÙNG MẪU

1. Việc phê chuẩn

Việc phê chuẩn chính thức Công ước này sẽ được thông báo tới Tổng giám đốc Văn phòng Lao động quốc tế để đăng lý.

2. Việc đăng ký

a) Công ước này chỉ ràng buộc những Nước thành viên nào của Tổ chức Lao động quốc tế dã đăng ký việc phê chuẩn của mình với Tổng giám đốc.

b) Công ước này sẽ bắt đầu có hiệu lực sau 12 tháng kể từ ngày hai Nước thành viên đã đăng ký việc phê chuẩn của mình với Tổng giám đốc.

c) Sau đó, Công ước này sẽ bắt đầu có hiệu lực đối với bất kỳ Nước thành viên nào sau 12 tháng kể từ ngày việc phê chuẩn của Nước thành viên đó đã đăng ký với Tổng giám đốc.

3. Việc bãi ước

a) Một Nước thành viên nào đã thông qua Công ước này có thể bãi ước bản Công ước sau một thời hạn 10 năm kể từ ngày Công ước bắt đầu có hiệu lực lần đầu tiên, bằng một văn bản truyền đạt việc bãi ước này cho Tổng giám đốc Văn phòng Lao động quốc tế để đăng ký. Việe bãi ước này chỉ có hiệu lực sau một năm kể từ ngày đã đăng ký với Tổng giám dốc.

b) Mỗi Nước thành viên dã phê chuẩn Công ước này, trong vòng một năm sau khi kết, thúc thời hạn 10 năm nói trong khoản tiền mà thông thực hiện quyền bãi ước đã quy định tại Điều này, thì sẽ bị ràng buộc trong một thời hạn 10 năm nữa rồi sau đó mới được bãi ước bản Công ước này mỗi khi tất thúc thời hạn 10 năm theo những điều kiện quy định tai Điều này

4. Thông báo việc phê chuẩn của các Nước thành viên

a) Tổng giám đốc Văn phòng lao động quốc tế sẽ thông báo cho mọi Nước thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) biết mọi trường hợp đăng ký, phê chuẩn và bãi ước mà các Nước thành viên ILO đã truyền đạt cho Tổng giám dốc.

b) Khi thông báo cho các Nước thành viên ILO về việc đăng ký phê chuẩn của Nước thành viên thứ 2 mà mình đã được truyền đạt, Tổng giám đốc sẽ lưu ý các Nước thành viên về thời điểm mà Công ước bắt đầu có hiệu lực.

5. Việc thông báo cho Liên hợp quốc

Để đăng ký theo Diện 102 của Hiến chương Liên hợp quốc, Tổng giám đốc Văn phòng Lao động quốc tế sẽ truyền đạt cho Tổng thư ký Liên hợp quốc đầy đủ mọi chi tiết về việc phê chuẩn và các văn bản về bãi ước mà mình đã đăng ký theo các quy định tại các Điều trên.

6. Việc xét lại

Mỗi khi xét thấy cần thiết, Hội đồng quản trị của Văn phòng Lao động quát tế sẽ trình một bản báo cáo về tình hình hoạt động của Công ước này lên Hội nghị toàn thể ILO và sẽ xem xét có cần đưa vào chương trình nghị sự của Hội nghị toàn thể việc sửa đổi lại một phần hoặc toàn bộ Công ước này hay thông.

7. Hiệu lực của các Công ước xét lại

1. Nếu hội nghị toàn thể chấp nhận một Công ước mới sửa đổi lại một phần hoặc toàn bộ Công ước này và nếu Công ước mới thông quy định khác thì:

a) Mặc dù có nhũng quy định tại phần 3 nói trên việc một Nước thành viên phê chuẩn một Công ước mới sửa đổi lại Công ước này, thì sẽ đương nhiên dẫn đến sự bãi ước ngay lập tức đối với Công ước này, vào lúc Công ước mới sửa đổi đó bắt đầu có hiệu lực và nếu như nó sẽ bắt đầu có hiệu lực.

b) Kể từ ngày Công ước mới sửa đổi bắt dầu có hiệu lực, Công ước này sẽ thôi không mở ra các Nước thành viên phê chuẩn nữa.

2. Trong mọi trường hợp, Công ước này vẫn sẽ giữ nguyên hiệu lực cả về mặt hình thức và nội dung như hiện nay đối với những Nước thành viên nào đã phê chuẩn Công ước này mà không phê chuẩn Công ước mới sửa đổi.

8. Văn bản dùng làm căn cứ

Cả hai bản tiếng Anh và tiếng Pháp của Công ước này đều có giá trị như nhau.